Minh Võ
Cách đây 5 năm, trong một buổi ra mắt sách ở Quận Cam, một lão bà đến bắt tay tôi chúc mừng và nói: “Sau cuốn này anh phải viết một cuốn tương tự về Hồ Chí Minh nữa”. Trong lúc bị bao vây bởi hàng chục độc giả đòi ký tên, tôi thấy ngờ ngợ như đã gặp bà này ở đâu. Rồi bỗng tôi nhớ ra: “Kìa chị Linh!” Vâng, đó chính là bà quả phụ Nguyễn Văn Linh, khuê danh Lê Thị Cúc, cháu của giám mục Lê Hữu Từ, từng là cố vấn tối cao của chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh.Anh Linh là bạn thân của tôi từ nhỏ. Anh đã bị Việt Cộng hành quyết trong rừng vì đã không chịu buông súng theo lệnh của hàng tướng Dương Văn Minh, dám vô “bưng” tổ chức kháng chiến chống quân chiến thắng VC.
Từ trước tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết sách về ông Hồ. Nên nghe chị Linh nói vậy tôi cũng chỉ cười trừ....Rồi quên câu nói của chị đi. Nhưng trong thời gian sau đó hình ảnh anh Linh cứ ám ảnh tôi. Thỉnh thoảng tôi lại như nhìn thấy anh đang bị Cộng sản chĩa súng vào ngực nhả đạn, máu me tung tóe. Tôi cố gạt cơn ác mộng đó đi. Nhưng một hình ảnh khác lại hiện ra không kém phần sống động. Linh mục Trần Học Hiệu, tiến sĩ đại học Sorbonne, giáo sư đại học Huế và đại học Đà Lạt rất thân với anh Linh và tôi, cũng bị VC giết sau 30 tháng Tư, và cũng vì lý do tổ chức kháng chiến chống Cộng trong mật khu. Chúng không hành quyết ông tại chỗ như anh Linh. Chúng đã xử tử ông tại một “tòa án” hẳn hoi. Phiên tòa đặc biệt này đã được linh mục học giả Hán Chương Vũ Đình Trác (mới mất) mô tả rất chi tiết trong tác phẩm “Công Giáo Việt Nam Trong Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc.”
Hai trường hợp trên gợi lên trong tôi hồi ức về biết bao người khác, trong đó rất có thể có liên hệ mật thiết tới hầu hết bạn đọc và quý vị ở đây. Sau 30 tháng Tư, thiết tưởng chẳng mấy ai trong chúng ta không có những người thân hay bạn hữu bị cộng sản giết.Và cố nhiên những hồi ức về thảm cảnh của thân nhân của chúng ta cũng nhắc chúng ta nhớ tới những trường hợp khác nổi tiếng hơn, như đại tá Hồ Ngọc Cẩn và quân sĩ dưới quyền. Chúng cũng làm chúng ta liên tưởng tới những vị tướng lãnh tuy không bị VC sát hại, nhưng đã tự sát để khỏi phải chết dưới họng súng của chúng. Đó là những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ. Còn biết bao sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ khác cũng đã tự sát hay bị VC tàn sát trong và sau ngày 30 tháng tư.
Hình ảnh của anh Linh và linh mục Hiệu về sau lại gợi cho tôi nhớ tới cái chết bi thảm của một người bạn thân khác là anh Trần Duy Hùng, bào huynh của bác sĩ Trần Văn Cảo, hiện có mặt ở đây. Trong đám tang anh (khoảng năm 1969) tôi đã khóc như mưa. Sau khi ở tù CS ra, cha mẹ rồi vợ con tôi chết tôi cũng không khóc, mặc dù con tôi chết “bất đắc kỳ tử” giữa tuổi 33, cuộc đời đang tràn trề hy vọng. Ruột tôi như đứt ra từng khúc. Nhưng tôi cũng không nhỏ được giọt nước mắt nào trước thi thể bầm tím của con. Thế mà không biết tại sao, trước linh cữu người bạn thân tôi không có cách gì cầm được nước mắt. Những người xung quanh đều lấy làm ngạc nhiên. Chính tôi cũng kinh ngạc. Vì dù là bạn thân đến mấy, dù trái tim tôi lúc ấy có lẽ còn mềm yếu hơn, thiết tưởng cũng khó giải thích được những hàng nước mắt liên tục chảy dài suốt nửa tiếng đồng hồ. Nhưng nay thì tôi hiểu. Có lẽ Trời đã xui khiến xếp đặt để tôi có một trữ lượng nước mắt khóc thay cho hàng triệu người dân Việt có thân nhân từng bị VC sát hại một cách hèn nhát. Tôi nói hèn nhát, vì anh Hùng đã chết vì một viên đạn bắn lén của VC trên đường Mỹ Tho - Saigon, trong lúc anh tạt qua nhà thăm vợ con. Và cũng để lượng nước mắt năm xưa nay biến thành lượng vô biên của mực viết, hiện hình trước mắt tôi thúc giục tôi phải viết một cái gì đó giải oan cho những vong hồn đã thác dưới bàn tay bạo tàn của VC.
Và pha vào nước mắt, còn có máu đào của hàng triệu chiến sĩ VNCH, của hàng triệu người dân vô tội, chết trong chiến tranh, nhất là chết trong cải cách ruộng đất, trong sưả sai, trong cải tạo tư tưởng, cải tạo tư sản, trong các cuộc vượt biên...Và cả trong các nhà tù CS! Nói đến nhà tù CS, những hình ảnh đói khổ, nhục hình, tra tấn, đánh đập và chết chóc lại hiện lên sừng sững. Bao nhiêu nhà ái quốc, nhà trí thức, nhà tu, nhà văn, nhà thơ đã bỏ mình tại đây. Nào những linh mục Hoàng Quỳnh, những thượng tọa Thích Thiện Minh, những lãnh tụ đảng phái Phạm Thái, Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Hướng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Thục Vũ, Phạm Văn Sơn v.v... giấy bút nào ghi cho hết ?
Đó là những năm sau tháng Tư Đen. Còn trước đó, vào thời “cách mạng tháng tám”, và trong chiến tranh chống Pháp, biết bao lãnh tụ quốc gia, biết bao danh nhân hào kiệt đã bị CS sát hại. Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân bị chôn sống, Trương Tử Anh, Lý Đông A bị “mất tích”, Nhượng Tống, Nguyễn Khang, Khái Hưng, Lan Khai, và biết bao tu sĩ Công Giáo cũng như Phật giáo, kể cả Đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo bị gài bẫy để sát hại, bị bỏ bao bố cho trôi sông...
Hồi ức về những cái chết bi thảm của người thân thỉnh thoảng lại nhắc tôi nhớ lời chị Linh. Có phải vì chị nghĩ HCM là thủ phạm chính của tất cả những cái chết oan khiên tức tưởi của hàng triệu nạn nhân đó.... Nên chị muốn tôi chịu khó tìm tài liệu hòng đưa ra ánh sáng những gì còn bị che khuất trong cuộc chiến quốc cộng và trong cuộc đời đầy bí ẩn và huyền thoại của ông Hồ? Hay vì chị thấy lớp trẻ con cháu chúng ta đang bị nhồi sọ và đầu độc bởi sách báo VC và những nhà báo, sử gia học giả ngoại quốc thiên tả vì đã từng có lúc trót ngưỡng mộ và ca ngợi “chủ nghĩa xã hội” không tưởng của Các Mác? Những sách báo đó, những tài liệu thiên vị sai lệch đó hiện nay đầy rẫy trong các thư viện công cũng như thư viện của các trường đại học, thường được dùng làm tư liệu chính thức của trường để các giáo sư và nghiên cứu sinh tra cứu học hỏi. Tôi đã có dịp đọc phần lớn những tác phẩm thiên vị sai lệch đó, trong đó còn có cả hai bộ từ điển bách khoa Britannica và Americana và thấy chúng rất tai hại cho những bộ óc còn non nớt của những sinh viên trẻ tuổi con em chúng ta.
Bao lâu những oan hồn của các nhà ái quốc, của các chiến sĩ quốc gia bị thác oan và bị tiếng oan là Việt gian, phản quốc, (vì dám chống “Cha Già dân tộc”) còn phảng phất đâu đây, chưa được giải oan thì số phận lênh đênh vật vờ của hàng triệu dân Việt tỵ nạn, lưu vong còn bi thảm. Những cuộc vùng dậy của những Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn, Lý tống, hay Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, những phong trào này, mặt trận nọ, chính phủ kia, đại hội lớn đại hội nhỏ xem ra còn lâm vào ngỏ bí, cứ như đụng đầu vào bức tường sắt. Chúng ta chưa thanh toán được món nợ với oan hồn các chiến sĩ chống cộng, yêu nước thì những chương trình kế hoặch, đề án này nọ nhắm vào một tương lai hậu cộng sản xem ra chỉ là ảo tưởng. Nhưng giải oan cho các oan hồn bằng cách nào đây? Hiện thời nhân dân trong nước vẫn còn bị đầu độc bởi “tư tưởng Hồ Chí Minh”, vẫn còn bị thần tượng HCM mê hoặc, áp đảo. Các nước trên thế giới còn bị những bộ sử thiên vị, sai lệch chi phối khiến cho những nhà làm chính sách của thế giới vẫn tìm cách bênh vực bào chữa cho cái chế độ đang tác oai, tác quái trước nhân dân Việt. Những can thiệp lên án của các tổ chức nhân quyền, ân xá quốc tế, của hội phóng viên không biên giới vẫn còn bị VC làm ngơ, coi thường, thậm chí thách đố bằng tiếp tục bắt bớ giam cầm, xét xử theo luật rừng, bất chấp luật pháp quốc tế.
Tôi biết sức mình không thể làm chuyện đội đá vá trời. Nhưng dường như vong linh các anh hùng dân tộc, các chiến sĩ đã hy sinh vì đại nghĩa đã phù hộ tôi. Những dòng máu của các tử sĩ, những dòng nước mắt của các bà mẹ già khóc con, của thiếu phụ khóc chồng, của thiếu nữ khóc người yêu, khóc anh em cha chú mình đã bị VC sát hại hiện ra trước mắt tôi như đựng trong bình mực lớn cứ thúc giục tôi phải viết. Và xem ra tôi không còn phải là tôi nữa, mà chỉ như một cây viết vô tri trong tay vong linh các anh hùng dân tộc.
Những gì tập sách đã làm tốt là nhờ có sự phù hộ, tiếp sức của những thế lực linh thiêng huyền bí đó. Còn những gì thiếu sót là do tự tôi hèn kém, mong sẽ có nhiều người tiếp tay hoàn chỉnh. Đó là điều tôi
MINH VÕ
Đọc tại buổi ra mắt HCM, nhận định tổng hợp, trưa ngày chúa nhật 14-12-03