TẦN TRUNG TÁC
Thơ MA XUÂN ĐẠO
TẦN TRUNG TÁC là một thi tập chỉ gồm 58 bài thơ song ngữ Hán - Việt. Tác giả Ma Xuân Đạo trước 1975 là một nhà giáo và cũng là một cây bút cộng tác với nhiều tờ báo xuất bản tại Sài Gòn. Tuy nhiên, Ma Xuân Đạo không theo đuổi công việc sáng tạo của một người làm nghệ thuật mà chỉ viết để giải tỏa trạng thái dồn nén tâm tư, ghi lại cảm xúc như những đợt sóng xô đẩy vào một phút giây nào đó. Với anh, thơ hoà vào nhịp đập của con tim và là hơi thở của bản thân. Thơ được viết ra không với dụng ý nào mà chỉ thể hiện sự sống của người viết. Ma Xuân Đạo sáng tác thơ đúng như anh phát biểu là “chỉ để đọc cho bạn bè nghe trong cơn say chứ không phải để cho đời biết đến tên mình”. Những bài thơ gom thành thi tập TẦN TRUNG TÁC được viết sau năm 1975 vẫn giữ nguyên cung cách như vậy.
Nhưng vào thời điểm này, Ma Xuân Đạo không còn dạy học, không còn là cộng tác viên của một tờ báo nào. Sau 30 tháng 4, anh bị đưa đi tù và chỉ được trở về với đời sống bình thường như mọi người vào thập niên 1980. Anh trở về không phải để có những ngày xum vầy ấm áp trong cuộc sống an lành mà để đối diện thường trực với những cay cực, tủi hờn của một kiếp sống đơn độc, nổi trôi, bập bềnh như mảnh lá khô trên dòng nước. Không thân thích, không nhà cửa, Ma Xuân Đạo lênh đênh ăn nhờ ở đậu và là kẻ làm công chuyên nghiệp nhận làm bất kể công việc gì cho bất kỳ ai, bất kỳ nơi đâu miễn là được trả công bằng hai bữa ăn hàng ngày. Đã có lúc Ma Xuân Đạo mượn những viên thuốc ngủ để chấm dứt cuộc đời đó, nhưng điều không may lại đến với anh là có người phát giác và chở đi bệnh viện cấp cứu để anh lại phải có mặt trong cuộc sống và trở thành kẻ chăn bò cho một nông trường tại Tân Uyên, Biên Hoà.
Thực tế vây hãm hàng ngày đã khiến Ma Xuân Đạo nhớ đến một thời kỳ con người bị đày đoạlà thời của bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng mà sử gia Tư Mã Thiên đã diễn tả: “Vua Tần lòng beo dạ sói, giết người đếm không xuể, hại người kể không xiết”. Trước mắt Ma Xuân Đạo, cảnh sống hãi hùng của người dân Trung Hoa từ hai ngàn năm trước đã tái hiện trong cuộc sống của người dân Việt Nam ở thế kỷ 20 và tập thơ, vì thế có tựa đề TẦN TRUNG TÁC -- Thơ viết trên đất Tần:
Dâu bể nào không lệ thảm dâng
Khắp trời đâu cũng cảnh ly phân
Người cam xứ lạ làm chim Việt
Kẻ trót thân dư gửi cõi Tần.
Quê hương trở thành đất Tần nên cảnh lạc loài trên hoang mạc đã diễn ra giữa lúc đi tìm người thân ngay trên các đường phố cũ:
Hoang mạc nằm ngay giữa biển người
Đạp xe khắp phố đã mòn hơi
Nhà thì chủ mới, nhà then khóa
Kẻ đã mồ xanh, kẻ dặm khơi.
Dù Ma Xuân Đạo chỉ diễn tả tâm sự của riêng mình, Hoàng Hải Thủy đã bắt gặp qua TẦN TRUNG TÁC, “tiếng kêu, tiếng than, tiếng khóc của quê hương đang sống trong đày đọa đau thương. Đó là những tiếng quê hương cất lên từ ngày cuối tháng Tư ngót 30 năm trước và kéo dài cho đến bây giờ”:
Một cánh chim côi lạc cuối trời
Nẻo về Vân Hán vẫn mù khơi
Rừng hoang hổ báo mùa khan thịt
Bể cả kình ngư buổi hiếm mồi
Thị tứ lồng son treo khắp chốn
Đồng quê lưới rập bủa đầy nơi.
Ma Xuân Đạo không cố vẽ những bức tranh đời, không cố mang thời thế vào thơ nhưng TẦN TRUNG TÁC vẫn trở thành một bức chân dung xã hội với những nét khắc đậm đà qua tính chất tự diễn đạt mình chỉ với chính mình.
Posted on 10 May 2008