Thứ Sáu, ngày 10 tháng Chín, năm 2010
 

Tủ sách
Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653 -
Falls Church, VA 22044

email:
info@tiengquehuong.com

Điểm Sách
TIẾNG QUÊ HƯƠNG

 
Biên Khảo
Chính Trị
Hồi Ký
Nghệ Thuật
Thơ
Tiểu Thuyết
Tôn Giáo
Văn Học
 


 

Tủ sách
Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653 -
Falls Church, VA 22044

email:
info@tiengquehuong.com


  • Hồi ký của một thằng hèn
  • TÁC GIẢ VŨ TRỤ KHÔNG CÙNG - NGƯỜI CỦA TẤM LÒNG
  • Đọc sách: NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM chính luận của NGUYỄN THANH GIANG
  • NGUYỄN THANH GIANG với NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
  • Về tác phẩm GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II - VĨ NHÂN THỜI ĐẠI của TRẦN PHONG VŨ
  • TRẮNG TRÊN ĐEN của Ruben David Gonzalez-Gallego CHUYỆN CŨ, CHUYỆN MỚI
  • TÂM SỰ NƯỚC NON: AI GIẾT HỒ CHÍ MINH? của MINH VÕ
  • Về tập tiểu luận TÂM SỰ NƯỚC NON: AI GIẾT HỒ CHÍ MINH? của MINH VÕ
  • VIẾT Ở RỪNG PHONG - ký sự của HOÀNG HẢI THỦY
  • Đọc SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN -- ký sự của HOÀNG HẢI THỦY
  • VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM CHÂN TRỜI TÍM
  • Đọc sách của tác giả Pierre Darcourt -- Dương Hiếu Nghĩa dịch
  • Giới Thiệu Sách Mới: VN, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
  • Đọc sách: VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN, ÂM VANG MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG KHÓI LỬA
  • Điểm sách “SAU BỨC MÀN ĐỎ” của HOÀNG DUNG
  • Nghi vấn "Tại Sao" và lời giải qua tác phẩm của Hoàng Dung
  • Về tác phẩm ĐỖ LỆNH DŨNG của LÊ THIỆP
  • VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC TÁC PHẨM ĐỖ LỆNH DŨNG của LÊ THIỆP
  • NHỮNG NÉT ĐẸP TRONG TRUYỆN ĐỖ LỆNH DŨNG CỦA LÊ THIỆP
  • Đọc ĐỖ LỆNH DŨNG truyện ký của LÊ THIỆP
  • “THƯ GỬI VÀO KHÔNG” tâm bút của MAI NGUYÊN
  • Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật
  • ĐỌC "ĐI TÌM NHÂN VẬT" tiểu thuyết TẠ DUY ANH
  • BỨC CHÂN DUNG VIỆT NAM qua tác phẩm "ĐI TÌM NHÂN VẬT" của Tạ Duy Anh
  • SÁCH MỚI: QUÊ HƯƠNG NGÀY TRỞ LẠI của Lê Mỹ Hân
  • Đọc ký sự QUÊ HƯƠNG NGÀY TRỞ LẠI của Lê Mỹ Hân
  • VAI TRÒ TRUYỀN THÔNG VÀ TRÁCH NHIỆM BỨNG GỐC “THẦN TƯỢNG” HỒ CHÍ MINH
  • Đọc và đánh giá tác phẩm HỒ CHÍ MINH, NHẬN ĐỊNH TỔNG HỢP của tác giả Minh Võ
  • Vài nhận định về TRONG ÁNH LỬA THÙ của UYÊN THAO
  • Đọc THƠ MAI TRUNG TĨNH
  • NGÃ TƯ HOÀNG HÔN của VĂN QUANG
  • Vài nét về NGÃ TƯ HOÀNG HÔN và tác giả VĂN QUANG
  • Đọc TẦN TRUNG TÁC, thơ MA XUÂN ĐẠO - BÀI HÁT BUÔNG PHAO
  • Về MA XUÂN ĐẠO và thi phẩm TẦN TRUNG TÁC
  • ĐỌC SÁCH: CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO của LÊ THIỆP
  • Đọc CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO của Lê-Thiệp những nỗi nhớ không rời...
  • “CHÂN ƯỚT, CHÂN RÁO” - LÊ THIỆP, MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
  • VIẾT VỀ MỘT NGƯỜI MANG TÊN NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
  • Đọc thi phẩm HOA PHƯỢNG của Nguyễn Thị Hoài Thanh TỪ THƠ TỚI NHỮNG MẢNH ĐỜI…
  • NGUYỄN THỊ HOÀI THANH người tiếp nối truyền thống yêu thơ của dân tộc Việt
  • Về tác phẩm GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II VĨ NHÂN THỜI ĐẠI của TRẦN PHONG VŨ
  • Đọc tuyển tập TỬ TỘI của CHÓE Nguyễn Hải Chí
  • Choé và tuyển tập TỬ TỘI -- NGƯỜI LÀM VƯỜN ĐỘC THOẠI
  • BÙI NGỌC TẤN qua tập hồi ký “VIẾT VỀ BÈ BẠN” - NGƯỜI CỦA TẤM LÒNG
  • ĐỌC TÁC PHẨM "VIẾT VỀ BÈ BẠN" của BÙI NGỌC TẤN
  • Đọc thi phẩm HOA PHƯỢNG - NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
  • GIỮA ĐÊM TRƯỜNG - tiếng kêu trầm thống của người “Gác Bút”
  • ĐỌC SÁCH NGUYỄN THỤY LONG: GIỮA ĐÊM TRƯỜNG & THÂN PHẬN MA TRƠI
  • THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ
  • THẾ GIỚI TÌNH YÊU trong THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ
  • TÁC GIẢ VŨ TRỤ KHÔNG CÙNG - NGƯỜI CỦA TẤM LÒNG
    VŨ THƯ HIÊN

    Ở miền Bắc Việt Nam trong thập niên 60 thế kỷ trước mọi tin tức đều chậm.
    Tin trong nước, tin thế giới, chậm tuốt.

    Tin tức bị kiểm duyệt kỹ, rồi mới được phân phát theo đại lý, cấp cao hưởng nhiều hơn cấp thấp, cứ thế cho đến lượt bần dân thì là cái xác rữa.
    Ấy là nói về tin của ngành truyền thông chính thống. Tù nhân hoàn toàn không được hưởng các thứ sản phẩm đó. Chỉ còn cách chờ tin ngoài đời lọt vào. Thứ tin này còn chậm hơn rất nhiều.

    Tin Bùi Ngọc Tấn bị bắt đến với tôi chậm tới bốn năm. Bạn có thể tin hay không tin, nhưng ở các nước xã hội chủ nghĩa, chứ không riêng ở Việt Nam, không tờ báo nào rỗi hơi đăng tin một anh nhà văn nào đó bị bỏ tù.
    Nhân dân quen với cuộc sống bị bưng bít chỉ quan tâm hôm nay mậu dịch bán hàng gì, bìa nào, phiếu nào được mua, mua thì cắt ô nào, hơn là tin về một người nào đó bị bắt.

    Năm 1971, tôi ở trại Tân Lập.

    Trại này to, nằm trong vùng đồi núi Phú Thọ, cách ga Ấm Thượng hơn một giờ đi bộ, gồm trại chính, lớn nhất, và các phân trại, nhỏ hơn, cái nọ cách cái kia dăm cây số, mỗi trại chứa khoảng từ 300 đến 500 tù.

    Các trại gần nhau là thế, nhưng mỗi trại là một ốc đảo, tù giữa các trại không được phép liên lạc với nhau, thậm chí hai bố con không ở cùng một phân trại thì chỉ thỉnh thoảng mới được biết tin nhau qua những anh tù tự giác có việc được ban giám thị sai đi từ trại nọ qua trại kia.

    Tôi miêu tả tỉ mỉ như vậy để các bạn hình dung được mỗi khi có tù mới được chuyển từ các trại địa phương lên thì tù ở trại trung ương vui thế nào.
    Thường trước những ngày lễ lớn của quốc gia, khi những người có tiền án tiền sự, cả những người bị tình nghi "có hại cho an ninh", đều bị càn vào các trại địa phương, ở đó họ được thanh lọc, phân loại, rồi chuyển lên các trại trung ương, là nơi giam lâu.

    Tù mới là sứ giả của cuộc sống bên ngoài. Qua họ, người tù mới biết "ở ngoài kia" có chuyện gì. Những người tù ở trại địa phương được tiếp xúc với xã hội bên ngoài nhiều hơn, được gặp người nhà đi tiếp tế thường xuyên hơn, được lao động gần dân hơn. Nhưng tin tức của họ cũng chẳng mới cho lắm -- thường thì họ cũng đã ở qua các trại địa phương trong tình trạng tạm giam vài tháng là ít nhất.

    Một anh tù mới lên kể ở trại Thủy Nguyên có một người tù đặc biệt. Anh này được các bạn tù trọng nể, thậm chí ban giám thị và các quản giáo (cai ngục) cũng phải đối xử với anh ta cách riêng. Nghe đâu trước kia người tù này là nhà văn, nhà báo gì đấy, tên anh ta người kể chuyện không nhớ -- trại Thuỷ Nguyên tuy là trại địa phương nhưng to không kém trại trung ương, tù đông lắm.

    Tôi chột dạ, chợt nghĩ đến Bùi Ngọc Tấn.

    Ai đã từng ở tù thì biết -- được các bạn tù yêu mến, trọng nể, không phải dễ. Người ta không trọng cái chức danh anh có ở ngoài đời, mà trọng cái tư cách của anh trong tù, cách ứng xử của anh với những người đồng cảnh. Nhất là với ban giám thị và các quản giáo vốn nhìn những người tù bằng nửa con mắt. Người như thế rất có thể, và phần nhiều, là tù chính trị. Nếu Tấn bị bắt, chắc hẳn anh ở trong số đó.

    Thế nhưng trong những lần gặp gia đình, rất hiếm hoi -- phải được Nhân Vật Số Hai của đảng trực tiếp cho phép -- tôi không thấy vợ tôi nói bóng gió về việc Tấn cũng bị bắt. Những chuyện như thế bị cấm, công an ngồi kè kè một bên theo dõi, ngăn cản.

    Nhà báo, mập mạp, tóc rễ tre, theo như lời tả của anh tù mới lên, thì đúng rồi, nhưng to con thì không phải.Tấn đậm người, tầm thước, chẳng thể gọi là cao lớn. Với lại, khả năng Tấn bị bắt, theo tôi, là rất nhỏ. Anh không nằm trong sổ đen của công an trong cái cơn điên khùng có tên là "cuộc đấu tranh giữa hai đường lối". (*)  

    Thế nhưng có gì là chắc chắn trong chế độ này?

    Sách lược "bắt nhầm còn hơn bỏ sót" của Đảng là nhất quán suốt  giai  đoạn  xây  dựng  xã  hội chủ  nghĩa, như người ta vẫn khẳng định mà.

    Chỉ đến khi ra tù, sau chín năm, tôi mới biết trực giác của mình không sai. Tấn bị bắt sau tôi có mấy tháng, vào đầu năm1968.

    Xã hội miền Bắc Việt Nam hồi ấy giống một tu viện dưới quyền một chưởng quản già nua khắc nghiệt. Trong tu viện này, con người phải chối bỏ bản thân, phải quên mình là ai, anh ta bị cái tu viện kia nuốt chửng.
     
    Con người trong xã hội kỳ cục ấy chỉ có duy nhất một cái quyền: ấy là ngoan.
    Người ngoan đông, hầu hết đều ngoan.

    Con người là thế, nó mang trong mình bản năng bầy đàn, nó có thói quen thích ứng và thường là thích ứng được, thích ứng dễ dàng, hoặc không mấy khó khăn, với mọi hoàn cảnh, kể cả hoàn cảnh tồi tệ nhất.

    Nhưng ở đâu chả thế, vẫn cứ có ngoại lệ, vẫn cứ có những kẻ cứng đầu, bất trị.

    Trong xã hội ngoan, bướng là một cái tội.

    Trong lề luật của thứ tu viện độc đáo này không có chữ dùng cho cái tội kỳ cục ấy, nhưng nó có thật, ai cũng biết, người khôn thì tránh, người dại thì mắc. Chẳng hạn, bắt đầu bằng sự dám cãi lại bề trên (bề trên ở đây có thể là ông trưởng thôn, ông chủ tịch xã, ông bí thư chi bộ, ông công an, ông xã đội) hoặc bị vạ miệng khi vô tình nói dăm ba câu chê bai ai đó trong các lãnh tụ hiền minh (lãnh tụ tỉnh, lãnh tụ ngành, hay lãnh tụ tối cao). Kẻ bướng bỉnh lập tức bị theo dõi, bị báo cáo, bị lập hồ sơ, để rồi vào một ngày đep trời, anh ta ngạc nhiên thấy mình bị người nhà nước tống lên xe bịt bùng, ném vào trại giam, để rồi cứ ở đó miết mà ngơ ngác, mà bàng hoàng, hết tháng này sang tháng khác, hết năm này sang năm khác, cứ thế mà diễn, cho đến khi được cho về nhà.
    Nếu còn cái nhà để mà về.

    Nếu không nằm lại trên đồi gió hú.
    Chuyện ấy chẳng làm ai ngạc nhiên.

    Tôi không tin Bùi Ngọc Tấn bị bắt còn vì trong cuộc sống bên ngoài chính trị, Tấn không thuộc loại ngang ngạnh. Người thuộc loại này dễ bị tai bay vạ gió, dễ bị người ta khâu vào lý lịch một nhận xét xấu, hoặc những chuyện giời ơi đất hỡi đủ để tống vào tù. Anh củ mỉ cù mì, ăn nói cẩn trọng, viết văn thuận chiều. Những người mà khi mới vào tù tôi đoán có nhiều khả năng bị bắt như Mạc Lân, Dương Tường, Hứa Văn Định, Châu Diên, Xuân Khánh, Vũ Bão… thì lại không bị. Tấn bị, mới kỳ.
    Đó là sự lạ. Thôi thì cứ đổ mọi sự không giải thích được cho cái số.
    Chứ biết làm thế nào?
    Để không đổ cho số mệnh, chỉ có một cách giải thích duy nhất nghe không xuôi tai cho lắm: Tấn trở thành "tên phản động, chống chế độ" bởi những mối quan hệ bè bạn. Anh chơi với bọn "xét lại chống đảng" thì anh bị bắt, có thế thôi.
    Tấn có tới ba người bạn trong "nhóm xét lại chống Đảng" bị bỏ tù hẳn hoi, bỏ tù chắc chắn, là Kỳ Vân, Hồng Sĩ, và tôi. Kỳ Vân là xứ uỷ viên Bắc Kỳ từ thời thuộc Pháp, đương kim phó tổng thư ký tạp chí Học Tập của đảng, Hồng Sĩ là trung tá công an phụ trách phản gián ở Hải Phòng, hàng xóm cùng một số nhà, cùng một tầng nhà, với Tấn. Con số trên hai được coi là số nhiều, Tấn bị bắt cũng phải.
    Nếu như Mao sếnh sáng ở Bắc Kinh xướng lên "đại cách mạng văn hóa" để tiêu diệt những kẻ dám hó hé chống mình, thì ở Việt Nam, ông Hồ Chí Minh và ông Lê Duẩn liền bắt chước, chế ngay ra một thứ tương tự. Nó là cái "tiểu cách mạng văn hóa", theo cách chúng tôi giễu cợt.
     Mục tiêu của "tiểu cách mạng văn hóa" không khác gì "đại cách mạng văn hóa" là tiêu diệt cho bằng sạch mọi công dân cứng đầu, trước hết là bọn đảng viên và trí thức bất tuân, kẻ thù thường trực của nền chuyên chế.
    Không biết khi thấy mình bỗng dưng trở thành "kẻ thù của nhân dân", Bùi Ngọc Tấn nghĩ sao, chứ tôi ngao ngán vô cùng. Tôi tiếc mình đã không làm một cái gì cho xứng với cái tội danh to lớn đi kèm với sự bỏ tù lãng nhách này.
    - Mình cũng thế. -- Bùi Ngọc Tấn nói, khi chúng tôi gặp nhau tại Sài Gòn năm 1985 -- Nhưng chúng mình thì có thể làm gì?
    Anh đặt câu hỏi. Tôi ngớ ra.
    Thì ra có bực bội với chế độ chuyên chế đến mấy, chúng tôi cũng chẳng biết phải làm gì với nó. Chúng tôi chẳng làm được gì hết. Chúng tôi là những kẻ dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, thậm vô tích sự.
    Đành tự an ủi dù sao mặc lòng, cái sự tù của chúng tôi cũng không phải hoàn toàn vô ích. Gì thì gì, chúng tôi cũng là những giọt nước trong rất nhiều giọt nước làm nên làn sóng bất tuân. Dù làn sóng này nhất thời chưa làm được cái gì ra hồn, nhưng cũng cho mọi người thấy ở cái xã hội do những ông thánh sống lãnh đạo không phải chỉ toàn một lũ nô lệ ngoan ngoãn cúi đầu vâng dạ.
    Điều đáng mừng là cả hai đứa tôi đều đã trở về.
    Cũng là do cái số.
    Nhờ Trời Phật phù hộ độ trì. Nhờ phúc đức ông bà ông vải. Có những người trong chúng tôi đã không về.  Kỳ Vân chẳng hạn. Hay Phạm Viết.
    Bùi Ngọc Tấn vẫn y như ngày trước, trong lần gặp ấy, sau sáu năm tù không án. Vẫn ăn nói nhỏ nhẹ, vẫn suy nghĩ thâm trầm, vẫn ánh mắt đăm chiêu. Tuy mái tóc dày đã có nhiều sợi bạc, mặt thêm nhiều nếp nhăn, thân mang nhiều bệnh tật  --  kỷ vật của trại tù khổ sai.
    - Chúng mình phải viết về những gì chúng mình thấy, ông ạ. -- Tấn nói -- Trách nhiệm đấy.
    - Hoặc đừng cầm bút nữa.
    Tôi đồng ý với anh.
    Đấy là sự lựa chọn phù hợp. Không phải người hoạt động chính trị, chúng tôi chỉ có thể trông vào cái mình có là ngòi bút để đứng trong cuộc đấu tranh chống lại thể chế phi nhân.
    Tôi bí mật cặm cụi sưu tầm tài liệu cho cuốn sách của tôi. Nó sẽ phải ra đời, một lúc nào đó. Trong cuốn sách, tôi sẽ cố gắng miêu tả cái xã hội mà chúng tôi phải sống sao cho thật rõ nét để người đọc suy ngẫm. Vụ án, nhà tù chỉ là cái cớ để nói về những chuyện lớn hơn.
    Rồi chúng tôi lại mỗi người mỗi ngả, kiếm sống là chính. Đứa nào cũng có một gia đình phải chăm lo, nhưng không đứa nào quên chuẩn bị cho cuốn sách dự định.
    Không chỉ hai chúng tôi tự hứa với mình sẽ viết về những gì chúng tôi phải chịu đựng, những gì chúng tôi trải nghiệm, trong những năm không thể nào quên ấy. Anh em khác bị bỏ tù hoặc bị trấn áp theo những cách khác nhau trong cái gọi là vụ án nhóm "xét lại chống đảng" đều âm thầm làm việc đó.
    Tôi tìm được cách đi sang Nga, ở đó tôi viết Đêm Giữa Ban Ngày, hoàn tất năm 1996. Ở trong nước, Xuân Khánh viết Trư Cuồng, Miền Hoang Tưởng trong ngôi nhà lụp xụp dưới ánh đèn dầu lờ mờ những đêm cắt điện triền miên. Trần Thư sau khi được thả vừa rời tay in nhãn hương cho các hợp tác xã là cặm cụi viết từng mẩu cuốn tự truyện Anh Cả Cò. Tấn bí mật viết nhiều truyện ngắn khác, thai nghén rồi viết Chuyện Kể Năm 2000.
    Chuyện Kể Năm 2000 là một cái tên gượng ép, được đặt một cách tình cờ khi cần chọn một cái vỏ hiền lành cho một tác phẩm dữ dội.
    Những cuốn sách của chúng tôi viết ra không dễ dàng. Tấn than phiền về sự bất lực của ngòi bút -- sự thật ngồn ngộn trước mắt, mà văn viết thì không có sinh khí. Chuyện xảy ra với bất kỳ ai -- công việc bị bỏ bễ một thời gian dài khi bắt đầu lại thì người nào cũng lóng ngóng.

    Ấy là chưa kể đến sự ở trong cái nhà tù lớn. Ở trong cái nhà tù ấy phải biết sợ. Cái sợ ngáng trở ngòi bút. Nó là con đỉa sống dai, bám chắc. Hồi ấy, năm 1985, chưa có gì hứa hẹn nó yếu đi. Hơn thế, vốn không phải người hoạt động chính trị chuyên nghiệp, còn không thích chính trị nữa là khác, mà những gì chúng tôi viết lại đụng đến chính cái không thích ấy, cho nên vất vả hơn.
    Tôi hình dung ra phòng văn của Tấn.

    Một căn phòng không quá hai chục thước vuông, nơi vừa là phòng ăn, vừa là phòng ngủ của cả gia đình, nơi từ nhiều năm thường xuyên diễn ra những cuộc gặp gỡ ồn ào của mấy thế hệ cầm bút, những cuộc tranh cãi nghệ thuật khi vui vẻ, khi khùng điên, bên cạnh giường ngủ đã buông màn của vợ con Tấn, nơi Nguyên Hồng lui tới nhiều nhất mỗi khi trở về vùng đất sinh thành của những nhân vật Bỉ Vỏ, Qua Những Màn Tối...

    Nguyên Hồng nhận xét về Tấn:

    - Thằng Tấn dí dỏm ra phết. Cái nhìn của nó tưởng là lờ đờ mà cứ hoay hoáy, hoay hoáy. Nó có tài phát hiện ra những cái mà người khác không thấy. Mình có được cái chất ấy của nó thì phải biết!

    Thì phải biết, là một lời doạ.

    Trong đời viết văn của Nguyên Hồng, anh không thực hiện lời doạ ấy lần nào, anh tự kiểm duyệt chặt chẽ những gì anh viết rồi tự an ủi theo lời Khổng Tử: "Đời đục ta trong làm sao được".

    Những kỷ niệm này được Tấn ghi lại một phần không nhiều trong Những Người Rách Việc, Một Thời Để Mất, Viết Về Bè Bạn.

    Tấn bắt đầu văn nghiệp bằng nghề phóng viên. Anh làm ở tờ Tiền Phong, một tờ báo của Đoàn thanh niên lao động (sau đổi tên thành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh).

    Anh đi nhiều, viết nhiều.

    Những bài báo tầm phơ, tất nhiên.

    Nhưng những chuyến đi liên miên ấy cho anh chất liệu để viết cái khác -- những truyện ngắn, bút ký. Anh viết cần cù, không nhiều, biết tránh né những gì cần tránh né, một cách bản năng.

    Viết như thế là không thật lòng, nhưng có ai dám viết thật lòng hồi ấy?
    Thành thử, cũng như nhiều người khác, anh có những tác phẩm viết để đấy, chỉ cho vài người bạn thật thân đọc. Kim Lân gọi chúng là "những tác phẩm xuất bản bằng mồm". Cũng không có gì ghê gớm lắm đâu trong những tác phẩm viết ra không cốt để in. Không biết khi bắt Tấn công an có thu mất những bản thảo ấy không? Tôi đồ rằng không. Tấn là người cẩn thận, anh biết cách cất giấu những thứ phải cất giấu. Nghe nói công an về tận quê Tấn khám xét nhà cụ thân sinh Tấn, nhưng không thu được gì. Nếu đám quan chức mù văn hoá mà tóm được mấy thứ ấy, tội của anh ắt nặng thêm. Mặc dầu trong mắt chúng tôi, những người bạn của anh, tác phẩm gai góc nhất của anh vẫn còn rất hiền lành.

    Bùi Ngọc Tấn không bỏ bút, đúng như anh nói. Độc giả nồng nhiệt đón nhận sáng tác của Bùi Ngọc Tấn sau những năm im tiếng vì sự miêu tả sự việc, sự vật khách quan, công bằng, với văn phong điềm đạm.

    Trong văn Bùi Ngọc Tấn, thực tế phũ phàng của một dĩ vãng chưa xa có thể làm rơi nước mắt người đọc hôm nay không hề giống sự tố cáo hay mạ lỵ. Anh ghi nhận, anh tả lại theo cách anh thấy, thế thôi. Những câu chuyện được kể bằng giọng la đà, không mang ý định thuyết phục ai, không mưu toan khuyến dụ ai, hiện lên cái nhìn nhân bản, nâng niu, trân trọng, đối với con người.
    Người đọc ở hải ngoại hầu như không biết về Bùi Ngọc Tấn cho đến khi Chuyện Kể Năm 2000 được mấy nhà xuất bản (hải ngoại) in ra cùng một lúc. Hiếm có cuốn sách nào được đón nhận nồng nhiệt như thế.

    Thật ra sáng tác đầu tiên của anh xuất hiện ở hải ngoại sớm hơn, nhưng ít được chú ý. Đó là truyện ngắn rất ngắn Người Chăn Kiến, đăng trong tờ Diễn Đàn ở Paris, hình như từ năm 1998 thì phải.

    Chuyện kể một giám đốc bị tù oan, cuối cùng được trả lại tự do, được phục chức, nhưng đúng vào lúc lẽ ra phải vui nhất, sướng nhất, là trong cuộc liên hoan mừng lẽ công bằng đã được lập lại cho anh, thì anh lẳng lặng chui vào phòng riêng để đi bắt mấy con kiến và... chăn chúng.

    Đó là cái công việc khổ sai kỳ cục mà khi ở trong tù những tên anh chị lưu manh bắt anh phải làm, để hạ nhục anh. Anh đã hết ở trong tù, nhưng anh không còn khả năng hội nhập với đám người ngoài nhà tù đang liên hoan kia. Anh vẫn là người tù trong tiềm thức kiên nhẫn dùng những tấm danh thiếp danh giá của mình và của người chặn đường đi của những con kiến trong cái trò chơi vô nghĩa.

    Từ khi vào tù, anh đánh mất mình ngoài ý muốn, anh không còn là anh nữa.
    Người Chăn Kiến là tiếng kêu cứu cho con người bé nhỏ, con người tội nghiệp, con người dân đen, là lời nguyền rủa cái quyền lực bất nhân không đếm xỉa đến số phận thần dân nằm dưới quyền cai trị của nó.

    Tôi sẽ không nói thêm điều gì về những truyện ngắn khác được in trong tập này.

    Sự phán xét, đánh giá sản phẩm bao giờ, và hiển nhiên, thuộc quyền độc giả. Mọi sự mách nước, khuyến dụ, đều là trò trẻ. Nó không cộng thêm cho tác phẩm một giá trị nào, dù nhỏ.  Người viết có người đọc mình là một hạnh phúc. Bùi Ngọc Tấn xứng đáng hưởng hạnh phúc ấy vì đã trả giá đắt cho những dòng chữ của mình. Và anh tặng tấm lòng mình cho người đọc, như là sự chia sẻ tâm tư, như là sự giãi bày tâm sự, như sự mời gọi người đọc suy ngẫm cùng với tác giả về những điều đáng để ta suy ngẫm trong cuộc đời.
    Tôi chỉ xin giới thiệu anh, với tư cách một con người, một cuộc đời, một số phận.

    Con người ấy chẳng có gì cho chúng ta, ngoài một tấm lòng.
                                                                                                                
    VŨ THƯ HIÊN 

    (*) Giữa thế kỷ trước, trong cái gọi là "phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế" đã xảy ra cuộc tranh chấp dữ dội giữa hai xu hướng cấp tiến (cởi mở) và bảo thủ (khư khư giữ nếp cũ) mà đại diện là hai cường quốc CS Liên Xô và Trung Quốc.

     
    Posted on 13 Sep 2008


     Contact Us | © 2008 - 2010 by   tiengquehuong.com