UYÊN THAO
Hoàng Hải Thủy là một trong số rất ít nhà văn không rời xa giấy bút từ buổi đầu vào nghề, dù gặp thời thế nào và cảnh sống ra sao. Nếu đúng như anh nói, viết là hạnh phúc và lẽ sống, thì anh đã giữ được trọn vẹn hạnh phúc và lẽ sống của mình, bất chấp mọi bão táp, tai ương.

Nhưng hạnh phúc và lẽ sống mà Hoàng Hải Thủy cố giữ và giữ được không hẳn là điều ai cũng mong có.
Trước hết, cái giá phải trả để hạnh phúc luôn nằm trong tầm tay và bản thân không rời xa lẽ sống đã chọn sẽ vô cùng ác nghiệt do thời thế tàn khốc.
Ác nghiệt hơn nữa, sống trong hạnh phúc cũng là tự nguyện đặt mình vào giữa vòng oan khiên cùng cực. Nạn nhân bị hành hạ, thậm chí bị căng xác chặt đầu chỉ phải trải một lần cảm giác đau đớn kinh hoàng. Một lần thôi, rồi dứt hẳn. Riêng nhà văn sống với hạnh phúc của mình không thể hưởng may mắn đó. Nhà văn không chỉ bị hành hình một lần mà liên tục bị hành hình cùng mọi nạn nhân và nối tiếp bị hành hình trước bàn viết khi sống lại với từng nỗi đời thảm khốc đã diễn ra.
Không nhà văn nào có thể thiếu trí tưởng tượng, nhưng cũng như Dostoievski đã nói, không nhà văn nào rời xa nổi những chi tiết vụn vặt trong thực tế xã hội, vì đây chính là chất liệu hình thành cuộc sống của nhà văn. Nhà văn phải sống cùng mọi sự kiện thực tế, hứng khởi với màu sắc tươi hồng, khắc khoải với ý nghĩa ẩn chứa và đau đớn tận cùng với những khổ não tối tăm cho tới khi các sự kiện đó in hằn vết khắc trong tâm não đủ thúc đẩy ngọn bút dâng lên những đợt trào cảm xúc suy tư. Hạnh phúc của việc cầm bút không mang tính đơn thuần thụ hưởng mà chính là cùng tham dự và chia xẻ mọi thăng trầm với tha nhân. Cho nên hơn một trăm năm trước, một nhà văn Hà Lan, Eduard Decker, đã chọn cho mình bút hiệu Multatuli -- kẻ chịu nhiều đau khổ.
Thu hẹp không gian tới mức tối thiểu là thế giới văn học nghệ thuật Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, niềm hạnh phúc mà Hoàng Hải Thủy cố giữ và giữ được luôn hực lửa vạc dầu địa ngục. Bên cạnh cảnh sống ngục tù của những nhà văn như Hoàng Hải Thủy và bạn bè anh là cảnh sống ê chề u uất chỉ giữ nổi hơi thở nếu chấp nhận mối ô nhục từ bỏ quyền làm người -- cảnh sống mà Hoàng Hải Thủy từng trải hoặc nghe biết qua lời than "làm người khó lắm" của nhà văn Ngô Tất Tố, qua nỗ lực đào thoát bi đát hãi hùng của một cây bút trẻ ở miền Bắc phải nuốt những lưỡi dao cạo vào họng cho ruột gan bị cắt nát...
Nhưng thế giới văn học nghệ thuật Việt Nam không thể hình thành thiếu thực tại xã hội Việt Nam. Cái nền tảng này còn hực lửa vạc dầu địa ngục gấp trăm ngàn lần mức độ vạc dầu địa ngục dành cho giới cầm bút. Người đọc có thể hình dung ra cái vạc dầu ấy qua một chuyện nhỏ trong xã hội Trung Hoa do văn hào Ba Kim kể lại đại lược: "Một nhà làm nghệ thuật ở Bắc Kinh bị những người làm cách mạng văn hóa lôi ra, kết tội câu kết với nước ngoài, phản cách mạng. Ông không thừa nhận nên bị đánh đập, đấm đá rồi roi vọt, gậy gộc đến mức sứt đầu xưng trán và gẫy một chân. Ông không đi nổi nhưng đội chuyên chính vẫn kéo ông ra bêu ngoài phố, quần áo rách bươm, khắp mình bết máu và bùn sình, miệng không ngừng rên rỉ. Hết thảy những người quen đều quay mặt đi khi ông bị kéo ngang qua. Thốt nhiên, một con chó từ giữa đám đông nhảy vọt ra, sủa lên mừng rỡ, chồm đến ngửi khắp mình ông, đưa lưỡi liếm và quờ chân ve vuốt. Nó bị đá văng đi nhưng vẫn quay lại quấn lấy ông. Cuối cùng, đội chuyên chính dùng gậy đánh gẫy hai chân sau con chó. Nó rú lên đau đớn, kinh hãi và phải chịu ngồi lại một xó, nhưng vẫn thảm thiết nhìn theo nhà làm nghệ thuật đang tiếp tục bị lôi đi".
Trong 5 tập Tùy Tưởng Lục viết khi vào tuổi tám mươi, Ba Kim ghi lại hàng loạt những chuyện như thế và cảm nghĩ của ông: "Tôi làm sao quên nổi những ngày người không ra người, thú không ra thú ấy. Tôi bị phạt làm bò, làm ngựa, tự mình cũng cam tâm ngủ trong chuồng bò. Những kẻ nhân danh Văn Cách chẳng khác sài lang hổ báo, còn hung hăng tàn ác hơn cả sài lang, hổ báo nữa. Ngay bọn trẻ nam nữ mười chín, hai mươi cũng lấy việc dày vò người khác làm vui... Còn bản thân tôi sao lại biến thành ngựa, thành bò? Tại sao người lại biến thành thú như thế? "
Cái xã hội mà người biến thành thú đến độ chính những người thân thiết với nhau cũng không giữ nổi cái tình bằng một con chó cũng là xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của một tập đoàn nhân danh cách mạng từ suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Cái xã hội đó bủa vây Hoàng Hải Thủy với cả ba tư cách người dân, người cầm bút và con người.
VIẾT Ở RỪNG PHONG là những đợt trào cảm xúc suy tư dâng lên theo những sự kiện thực tế xã hội đó với những vết chém dọc ngang trong tim người cầm bút. Trong cảnh huống này, những dòng chữ mà Hoàng Hải Thủy ghi trên giấy, dù chỉ gợi nhắc một kỷ niệm riêng, chính là lời rên xiết của thân phận nạn nhân, là tiếng thét phẫn nộ của lương tâm trước các cảnh đời tàn ác tới mức phi lý và là tiếng gào lăng mạ mọi mưu toan đê nhục cúi đầu tuân phục những thế lực đang nỗ lực biến con người thành loài thú.
Nói một cách khác, VIẾT Ở RỪNG PHONG không đơn thuần là một tác phẩm văn học mà còn là chứng tích của một thời kỳ lịch sử Việt Nam trong đó những người dân lương thiện, những con người đúng nghĩa con người đã bị quật quã dập vùi thê thảm bởi một tập đoàn mà Ba Kim diễn tả là tàn ác hơn cả sài lang, hổ báo. Buông trôi cho những chứng tích loại này bị vùi lấp theo năm tháng là lỗi lầm khó tha thứ của người đang có mặt hiện nay đối với các thế hệ mai sau.
Tất nhiên với tương quan bản thân, Hoàng Hải Thủy gần như chỉ gắn bó với thế giới những người làm nghệ thuật Việt Nam. Nhưng cuộc sống luôn bao gồm nhiều lãnh vực sinh hoạt và lãnh vực nào cũng là một phần thực tế của cuộc sống, lãnh vực nào cũng có sự hiện diện của con người. Từ toàn bộ sự sống để nhận thức các lãnh vực hay từ từng lãnh vực để nhận thức toàn bộ sự sống đều là những con đường phải qua khi cần nhận diện sự sống con người trong một thời kỳ nào đó.
VIẾT Ở RỪNG PHONG chắc chắn đã góp phần đáng kể vào việc lưu giữ những chứng tích về thời kỳ lịch sử mà chúng ta trải qua và rất cần được lưu giữ.
UYÊN THAO