NGUYỄN MẠNH TRINH
Trong văn học,rất nhiều người viết về Saigòn. Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Vũ Bằng,… trong văn. Nguyên Sa, Du Tử Lê, Cao Đông Khánh,… trong thơ. Mỗi người mỗi vẻ, nhưng trong đại thể,đều có sự nâng niu của kỷ niệm ,của ký ức không thể nào quên của cả một đời người. Saigòn như nơi đất thánh của văn học Việt Nam, nơi chốn hiển lộng của văn chương không thua kém gì Hà Nội. Nhất là, trong những thời kỳ đặc biệt của đất nước.

Đọc SỐNG & CHẾT Ở SAIGÒN.tự nhiên ký ức tôi như một máy quay phim trở lại những ngày tháng cũ. Tuy đã hai chục năm mà tưởng như mới ngày nào. Những ngày tháng hoảng loạn đen tối nhất của một đời người. Thời kỳ mà, cuộc sống như hỏa ngục, lúc nào cũng đầy những mắt thù chăm chăm rình mò của loài chim kên kên săn mồi. Những buổi tối đạp xe lang thang, lòng hoang mang chẳng biết nơi nào trú ẩn qua đêm. Có nhà có cửa mà sống vất vưởng ,náu thân ở bến xe, hè phố cho hết một đêm dài chờ sáng. Tôi nhớ lại những ngày không hộ khẩu năm 1979, 1980 khi cải tạo trở về. Saigòn thành phố yêu dấu sao xa lạ quá. Từ những bảng đường, từ những khuôn mắt chán chường, từ những ngõ đường cụt không lối thoát. Với Hoàng Hải Thủy, những trang ký sự tiếp tiếp nỗi niềm. Đọc để rồi thấm thía và cảm khái. Những mảnh đời nổi trôi trong cơn hồng thủy. Văn nghệ sĩ, người đau trước cái đau của thời thế đã phải gánh chịu nhiều nghịch cảnh. Những cái chết tức tưởi trong tù của Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường… Những cái sống vất vưởng trong tù ngục hay tuyệt đường sinh kế của phần đông mọi người. Sống mà tưởng như cõi chết. Xã hội đầy những nhà tù nhỏ: Chí Hòa, Phan Đăng Lưu, Gia Trung, Xuyên Mộc , Phước Long, Bùi gia Mập, Yên Bái, Thanh Hóa… Nhưng rộng lớn hơn, không hàng rào kẽm gai , không vệ binh canh gác, là toàn thể Việt Nam ,một trại tù bao la được thiết lập từ một chế độ bạo tàn sắt máu. Saigòn thời kỳ ấy có khung cảnh của một ngày tận thế.
Hoàng Hải Thủy rất yêu thi ca. không biết có phải làm loãng đi sự đen tối và thêm một chút lãng mạn cho những vở bi hài kịch tiếp diễn ngoài kia. Trong cảnh khổ ông làm thơ và dịch thơ. Ông cũng luôn tưởng nhớ đến những thi sĩ và viết nhiều về Vũ Hoàng Chương, Thanh Nam, Mai Thảo, Duyên Anh… Nhưng Saigòn của ông vẫn là tiền trường của ngày không ánh sáng. Ở đó, không phải Saigòn cổ kính đầy ắp phong vị Nam bộ của Vương Hồng Sển, Sơn Nam… Mà, cũng chẳng phải Saigòn thơ mộng của áo lụa Hà Đông Nguyên Sa, của thơ Du Tử Lê “đêm nhớ trăng Saigòn”, hay của Cao Đông Khánh “rồng bay phượng múa”.
Saigòn, với tác giả, là những đêm bặt thở, chờ tiếng xe gầm rú và tiếng gõ cửa bắt người. Đời sống cứ trải mãi ra những nỗi niềm bi thiết. Một lúc nào đó, không dừng được, bút danh “Anh con trai bà cả Đọi” hay “Công tử Hà Đông” được dùng để gửi đi những thông điệp của người ở lại gửi ra hải ngoại. Viết văn như thế là bất kể những hậu quả dù có thể giãi bày được tâm sự của mình. Tội danh phản động hay “biệt kích văn nghệ” sẵn sàng gán vào người. Những câu “phóng dao” phác họa một thời thế buộc con người phải lưu vong đào thoát với những cuộc vượt biển mà cái chết và cái sống nhiều khi nhập nhòa thành một:
“.Đứt ruột, phải không bạn? Saigòn có gì lạ không Em? Saigòn có một ngàn chuyện lạ. Một trong những chuyện lạ Saigòn,chuyện đặc biệt Saigòn là chuyện người Saigòn vượt biên những năm từ 1976 đến 1990. Phong trào Vượt Biên lên đến đỉnh cao trong những năm 1980-1985. biết bao nhiêu người chết thê thảm trong biển Đông? Ước lượng vu vơ, chủ quan thôi. Không bao giờ ta biết đích xác con số người Việt chết chìm dưới biển trên đường bỏ nước ra đi tránh nạn cộng sản.
Thời gian qua đi. Những vết thương lên sẹo hoặc còn đó nhưng bị quên lãng. Chỉ còn những lời phóng dao ghi lại chuyện một thời:
- Em đi Anh nắm cổ tay
Anh hẹn câu này Em chớ có quên
Đôi ta đã có lời nguyền
Lấy ai thì lấy đừng quên gửi đồ”
Những câu “phóng tác ca dao” trên chính là lời của chứng nhân, tiếng vọng lại từ đám đông dân chúng thầm lặng. Mai sau, có người đọc lại, sẽ hình dung được hoàn cảnh thê thảm của một xã hội băng hoại đến tận cùng. Thế mà, trước 1975, Saigòn được mệnh danh là “ hòn ngọc Viễn Đông”, là cái nôi của 20 năm văn học miền nam phong phú và khởi sắc.
Sau bao nhiêu gian truân, sang được đất Hoa Kỳ tị nạn, dĩ vãng đau xót vẫn còn ám ảnh. Tác giả SỐNG & CHẾT Ở SAIGÒN có nhiều đêm nằm mơ thấy mình đang đứng trước tòa án của bạo quyền đỏ.Bao nhiêu là oan khuất. Bao nhiêu là bằng hữu bị đầy ải trong tù ngục.Những cơn ác mộng hiện về và những trang sách giở ra…:
“… Mới đây một nữ độc giả cuả tôi cho tôi biết nàng nghe một nhà xuất bản ngỏ ý “ Sách viết về tù đầy, cải tạo nhiều quá rồi, nếu bây giờ có một quyển viết về các văn nghệ sĩ đã qua đời ở thành Hồ kể từ ngày 30 tháng tư năm 1975…” nàng hỏi tôi “ Sao anh không viết về cái chết của những ông Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt… và bao nhiêu người bạn khác của anh như Minh Đăng Khánh, Ngọc Thứ Lang, Minh Vồ,…? Anh là người có nhiều khả năng viết một quyển về cái chết của những văn nghệ sĩ !
Nàng ơi! Từ ngày bánh xe lãng tử khấp khểnh, gập ghềnh đến Hoa Kỳ đất lưu đày, tôi đã viết khá nhiều về các bạn tôi qua loạt bài Các Bạn Tôi Sống Chết ở Thành Hồ. Những bài ấy đăng tản mác trên các báo. Nhờ nàng nhắc và khuyến khích, tôi sẽ thu thập và viết lại những bài đó để xuất bản thành một quyển sách nghiêm chỉnh: Sống & Chết ở Saigòn “
Hoàng Hải Thủy yêu thơ Vũ Hoàng Chương cũng như yêu thơ Thanh Nam. Ông mượn từ ngữ “Rừng Phong” của thi bá để chỉ nơi cư ngụ của mình ở xứ tạm dung cũng như đã nhắc đến ngôn ngữ tài hoa của một bài thơ cuối cùng nói lên tâm trạng của một thời biến đổi :
“Thi sĩ thiên tài làm cho ý thơ xưa sống lại, làm tim ta đau nhói. Bây giờ hơn hai mươi năm sau, những người bị Việt Cộng bắt đi cải tạo nếu còn sống tuyệt đại đa số đã đưa vợ con sang ở Hoa Kỳ, những người đã chết…đã chết, nay đọc lại những lời thơ xưa về một thời bi thảm có thể ta chỉ thấy ngậm ngùi, nhưng hãy nhớ lạinhưng ngày, những đêm ghê rợn cuối năm 1975 đầu năm 1976 khi những người thân của ta bị gọi đi cải tạo và bị đưa đi mất tích, những lời thơ “Chàng về trong mộng đêm đêm“ làm cho ta vỡ tim…
Chữ đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương…”
Thơ tuyệt mệnh viết trong xà lim, hay bài thơ “Vịnh tranh gà lợn “ viết tết năm thìn 1976 biểu tỏ cái vòi vọi của sĩ khí miền Nam. Cũng rất đúng như lời Hoài Bắc Phạm Đình Chương nói với tác giả :
“- Bà Văn Cao vào, Văn Cao chưa vào được. Văn Cao nhắn vào nói với Thái Thanh “Hát như cô mới là hát. Ở ngoài này chúng nó không biết hát.” Trần Dần nhắn bà Văn Cao vào nói với Vũ Hoàng Chương “Anh yên tâm. Thơ của anh, và thơ anh Hùng (tức nhà thơ Đinh Hùng) không bao giờ mất được…”
Tôi cũng có đồng cảm với nhận xét trên. Thi ca miền Nam xây dựng trên hứng cảm tự nhiên của con người nên có bề sâu và đời sống dài hơn những bài thơ của miền Bắc viết ra với mục đích phục vụ cho chế độ. Viết về thơ Thanh Nam, tác giả cũng tỏ lộ nhiều cảm khái. Ba chục năm trước,1970, Thanh Nam làm “Bài Hành đón tuổi Bốn mươi” nói lên cảm xúc của mình trước cuộc đời về một cuộc chiến khốc liệt.. Lưu vong xứ người, thi sĩ chân thành nghĩ về những ngày tháng mất quê hương:
Thức ngủ một mình trong tủi nhục.
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ.
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa.
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ guc ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mông xưa…”
Thi ca, để tâm hồn thăng hoa. Và cũng để nỗi khổ đau không làm cằn cỗi được cội rễ nhân sinh. Trái lại, ngôn ngữ thi ca sẽ thành chất mầu mỡ để văn chương nở ra những bông hoa trân quí làm đẹp cho đời.
Đọc xong quyển sách, tự nhiên tôi hiểu được thông điệp mà tác giả muốn ngỏ. Ai cũng có đau khổ, nhưng liệu có sánh bằng những người đã sống và chết ở Saigòn, những văn nghệ sĩ làm Saigòn bất tử với văn chương. Cũng như những nỗ lực cầm bút giữa đời sống bận rộn thúc ép của xứ người có bằng không cái an nhiên cầm bút thách đố bạo quyền đåể nói lên cái tâm cảm trung thực của kẻ sĩ. Bút mực tôi ai cướp giật đi. Tôi sẽ dùng dao khắc văn vào đá…
NGUYỄN MẠNH TRINH