Đọc ĐỖ LỆNH DŨNG truyện ký của LÊ THIỆP
NGUYỄN MINH DIỄM
Hầu hết con người sống một đời sống bình thường mặc dù không ai muốn
chấp nhận điều đó. Lý do là vì như thế thì nó “tầm thườn quá,” êm ả
quá chẳng có gì đáng nói. Đời sống đựơc coi là bình thường- như một
loài cây cỏ- khi nó chỉ gói gọn vào những điều ai cũng làm được, nhằm
lấp đầy khoảng thời gian của cõi nhân sinh, kể từ lúc cất tiếng khóc
chào đời cho đến khi xuôi tay nhắm mắt. Những con người như thế không
chống lại định mệnh, mà cứ để cuộc sống đưa đẩy, tới đâu hay đó, “mặc
cho gió cuốn mây trôi,” hoặc như tựa đề một tiểu thuyết của Margaret
Mitchell nay đã đựơc xếp vào lọai kinh điển, là “cuốn theo chiều gió.”
Đời sống không đẹp hơn vì có những con người như thế, và cũng không tệ
hơn nếu họ không ra đời, không sống. Nhưng đời sống phải có họ thì mới
thành đời sống. Lý do là vì nếu trong đời tòan những siêu nhân và anh
hùng cả thì lấy gì để nhận chân ra những anh hùng siêu nhân ấy. Không
ai viết tiểu sử những con ngừơi tầm thường đó bởi nếu viết thì cuốn
sách cũng sẽ nhạt như đời sống của chính nhân vật.
Nhưng nếu cái đời sống “cuốn theo chiều gió” ấy lại xẩy ra trong một
khoảnh khắc đầy giông tố của một dân tộc, trong một khúc quanh lịch sử
chẳng hạn, ở đó đầy ắp những sự kiện, đầy ắp những biến động đang ào ạt
xẩy ra để chuẩn bị cho một cuộc đổi đời của một dân tộc hay một đất
nứơc chẳng hạn thì sao? Một thí dụ cũng đã trở thành kinh điển là anh
chàng Johann Moritz của cuốn giờ thứ 25 của C.V. Gheorghiu chẳng hạn.
Từ một chàng nông dân Romania hiền lành chỉ mong sống một cuộc đời bé
mọn yên ổn với vợ, rồi sẽ với các con, các cháu và chết yên lành nơi
thôn dã, bỗng bị đưa vào trại lao động mà không biết vì lý do gì, rồi
từ trại tù này sang trại tù khác, bị đánh đập, rồi trở thành lính quốc
xã và sau cùng lại trở thành tù binh của quân Đồng Minh. Bao nhiêu năm
trời lang bạt mà vẫn cứ theo gió cuốn đi, không hiểu tại sao và cũng
không thắc mắc tại sao, chỉ “duy có đôi mắt là buồn”. Nhưng cụộc đời
của anh ta lại là khúc quanh của lịch sử, kể từ khi phát xít Đức bắt
đầu xâm chiếm các nứơc Đông Âu cho đến khi thế chiến hai kết thúc. Cho
nên, đời sống bình thừơng của Moritz không còn tầm thường nữa vì nó đã
gắn liền với lịch sử hay nói theo kiểu thời đại, là “ăn theo lịch sử.”
Gheorghiu phải kể chuyện Moritz cũng như chúng ta phải đọc truyện đó để
cảm thương cho thân phận con ngừơi, để thấy diễn tiến một giai đọan
lịch sử của nhân lọai mà chúng ta mong nó không bao giờ tái diễn nữa.
Chúng ta cũng đau xót biết bao khi nhận ra rằng cái ác bao giờ cũng
hiện diện và hoành hành khá lâu trước khi lụi tàn.
Một nhân vật tương tự như thế, nhưng bối cảnh là miền Nam Việt Nam tơi bời khói lửa hồi thập niên 1960 và 1970, do đó đời sống cũng trầm luân hơn, ba chìm bẩy nổi hơn và nhất là gần gũi với chúng ta hơn vừa đựơc nhà văn Lê Thiệp viết lại trong cuốn truyện ký “ĐỖ LỆNH DŨNG” do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ấn hành tháng 11 năm 2006.
Sách dầy hơn 400 trang in ấn mỹ thuật và trang nhã với bìa cứng, chữ mạ vàng và mốt số hình ảnh thực của nhiều giai đọan trong đời sống của Đỗ Lệnh Dũng, nhân vật được nhà văn Lê Thiệp kể chuyện, chuyện thật- với những diễn biến thật, cùng những chứng nhân thật trong giai đọan sôi động nhất, mà cũng bi hùng nhất của miền Nam Việt Nam.
Cái lạ nhất của cuốn truyện là mọi thứ đều thật và mọi diễn biến đều gắn liền với lịch sử. Vì thế nó đã “thật” một cách không ngờ. Đây có thể coi là truyện của một con ngừơi, hay truyện của một lớp người, hay truyện của một “đất nứơc” đã đựơc khai sinh, lớn lên, suy tàn rồi biến mất chỉ trong vòng hai chục năm. Con ngừơi ấy là Đỗ Lệnh Dũng. Lớp người ấy ra đời đầu những năm 40, trưởng thành đầu những năm 60 trong đó có Lê Thiệp và ngừơi viết bài này, còn đất nứơc ấy là Việt Nam Cộng Hòa được thành hình tại miền Nam sau hiệp định Geneva năm 1954, và bị bức tử ngày 30 tháng tư năm 1975.
Trong hơn 20 năm của một đất nứơc với dân số trên dưới 15 triệu và sống trong chiến tranh hết ¾ thời gian, biết bao nhiêu sự kiện đã xẩy ra, bao nhiêu chuyện đáng nói đáng kể, nhưng Lê Thịêp, với cái nhìn sâu sắc của một nhà báo, khả năng của một nhà văn và một trái tim nhân bản đã kể lại cho người đọc nghe trong 14 chương, với một số đọan dẫn nhập bằng những diễn biến lịch sử giống như vẽ nên một bức tranh tòan cảnh khiến ngừơi đọc không thể rời mắt khỏi trang sách, không thể không hồi hộp theo dõi số phận của những con người đang quay cuồng theo dòng đời, để đến lúc cuối, buông sách xuống mà bâng khuâng. Bâng khuâng vì hóa ra đời sống và những đau khổ hạnh phúc thật ra vô cùng đơn giản, và những suy tư dằn vặt đến mức nào chăng nữa thì rồi cũng qua đi như ngày tháng, như nứơc cứ chảy và mây cứ trôi. Cứ tưởng tượng ba con người tù binh bị xích chùm lại với nhau, khóa lại để đi ngựơc con đừơng Hồ Chí Minh từ nam ra bắc dọc dải Trừơng Sơn hàng ngàn cây số- con đường mà nếu đi thong dong thì cũng chỉ mong mỏi “ đi ba đến một,”- thì thấy là họ phải chết. Nhưng họ đã đi và đã tới, khi tìm ra giải pháp là “đeo cái khóa lên băng một sợi dây chòang qua vai,” mặc dù như vậy thì “ba người không rời nhau quá ba thước và phải đi vệ sinh cùng một lần” (Đỗ Lệnh Dũng, t. 245). Quả nhiên là cái đau khổ nhất đã đựơc giải quyết một cách đơn giản nhất, và hơn thế nữa, nỗi đau khổ cũng chẳng còn ý nghĩa bao nhiêu khi đã trở thành ký ức. Thế mới thấy ông Machiavelli là tài, khi khuyên nhà cầm quyền nên “thi ân bố đức thì từ từ, còn khi cần mạnh tay thì làm cho nhanh”.
Cái bâng khuâng ấy cũng là tâm trạng của chính Đỗ Lệnh Dũng, sinh viên luật, người lính, người chiến sĩ, người tù và người anh hùng khi tâm sự với vợ là Song Thu:
Anh đâu muốn làm anh hùng
…………………………
Anh chỉ muốn làm anh hiền. Anh chỉ muốn một đời sống giản dị, bình thường, không bắn giết, không súng đạn. Uớc ao đó từ hồi nhỏ, nhưng rồi cả đời anh là chiến trận, là tù đầy, là khổ nhục. Làm anh hùng để làm gì? (Đỗ Lệnh Dũng, 387)
Truyện bắt đầu với cụôc chiến tại Đồng Xòai mà tên chữ gọi là Đôn Luân vào cuối tháng 11 năm 1974. Cuộc tấn công kéo dài 12 ngày, sau đựơc coi là mở đầu cho một chiến dịch rộng lớn đưa đến sự sụp đổ của miền Nam chỉ bốn tháng sau đó.
Lý do khiến Đỗ Lệnh Dũng, lúc đó là trung úy của quân lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt tại chiến trường ấy vào lúc bấy giờ là một điển hình của cái lô gích “cuốn theo chiều gió” sẽ được diễn tả đầy đủ trong mấy chương sau.
Một chàng trai lớn lên tại miền nam, học trung học rồi đại học; bị tổng động viên thì vào quân trường; phân phối đi đâu thì đến trình diện ở đó; gia đình đựơc đi Mỹ, nhưng không được đi thì ở lại; đến khi do định mệnh đưa đẩy mà được phép đi, thì phải trở lại từ giã bạn bè anh em, nhưng rồi kẹt lại vì bị địch tấn công; địch tràn ngập thì bị bắt làm tù binh.
Những nhà lãnh đạo Nam Bắc và cả Hoa kỳ nữa tính tóan gì là chuyện của họ, nhưng đối với Đỗ Lệnh Dũng và các bạn cùng lứa tuổi thì vấn đề chỉ giản dị là giặc đến thì phải đánh; nếu phải chọn giữa người yêu và bổn phận, thì phải chọn bổn phận; và đối xử với nhau thì cái tình là chính; khi nào vui đựơc là vui, né được là né, mà khi làm việc gì thì làm cho hết mình, thì “mới coi được.” Nếu vì nhiệm vụ của mình mà bỗng nhiên trở thành “anh hùng” thì cũng chẳng coi đó là điều quan trọng; nếu thua bị bắt thành tù binh thì cũng đành chịu thân phận tù thôi. Đó không phải là những chiến sĩ quyết tâm bảo vệ “chính nghĩa quốc gia,” mà cũng không phải những người chỉ mong có một đời sống nhàn nhã sung túc dù có phải “hèn” một tí. Những suy nghĩ như thế của Dũng là tiêu biểu cho hầu hết thanh niên miền Nam bứơc vào tuổi 20 vào đầu những năm 1960, trong đó có tác giả Lê Thiệp và bạn bè. Đó là cách suy nghĩ đựơc những người cộng sản gọi là “tiểu tư sản”. Nó khác hẳn với những người cùng lứa tuổi sinh ra và lớn lên ở miền Bắc với quan điểm bạn thù rõ rệt và cách sống, cách suy nghĩ giống hệt nhau vì được giáo dục và bồi dưỡng từ nhỏ.
Những trang sách mô tả sinh họat trong quân ngũ khi nghỉ ngơi cũng như khi phải đương đầu với địch luôn luôn thấm đẫm tình ngừơi. Đó là tình của bạn hữu, của đồng ngũ với nhau, và khi một ngừơi ra đi, thì nỗi sót sa thương cảm cũng chỉ đựơc tả một cách đơn giản nhưng vẫn đủ sức khiến người đọc ngậm ngùi. Cái tài ba của một nhà báo thể hiện rõ ở những chỗ này. Xin hãy đọc:
“Tiếng nổ đã im từ nửa đêm qua. Khi tiến lên đựơc đến đỉnh, một cảnh tang thương bày ra trứơc mắt chúng tôi. Những vòng rào có lẽ bị bộc phá quăn queo thành từng nhúm.Vài nơi còn khói ngún lên thành dải. Xác chết la liệt, đủ dạng đủ kiểu.
Đau lòng nhất là ngay ở sân cờ, khỏang hơn hai chục xác bị bắn, hai tay vẫn bị trói giật cánh khủyu ra sau lưng. Có lẽ họ bị bắt, bị trói và sau đó bị xả súng bắn.
Không có thương binh.
Tôi chưa thấy đại úy Cảnh khóc bao giờ cho đến hôm đó. Ông đứng ở mỏm đá cao nhất nhìn cảnh tượng của Bà Rá, hai khóe mắt đẫm lệ. Ông không nói một câu gì, không chủi thề như mọi khi, không hò hét lính tráng như vẫn hò hét khi ra trận. Ông đứng đó chết trân.
Tôi cũng thấy nước mắt mình ứa ra khi quỳ xuống vuốt mắt cho Mai, cho người đồng đội với giấc mơ Hán Nôm. (Đỗ Lệnh Dũng, 138)
Từng câu ngắn, mỗi câu là một vệt thêm vào bức tranh toàn cảnh. Đến câu cuối thì xong bức tranh và cảnh trí bổng nhòa đi để chuyển hóa thành nỗi sót sa.
Cảnh chiến trường tả đến thế thì tài thật.
Chuyện khiến Đỗ Lệnh Dũng trở thành anh hùng cũng là một chuyện lạ. Trong một trận chiến, khi cố vấn Mỹ là đại úy Sam Graves thấy một binh sĩ bị trúng đạn đã chạy lên cứu và trở thành một mục tiêu ngon lành của địch. Trung úy Dũng đã phải xung phong lên cứu Sam. Anh coi chuyện đó là thường vì như nhắc đi nhắc lại với tòa đại sứ Mỹ rằng “chuyện cứu viên sĩ quan Mỹ không có gì ghê gớm với tôi vì đó là bổn phận của tôi, và hơn nữa, vì chính mạng sống của tôi và binh sĩ dưới quyền,” nhưng họ cứ nhất định xưng tụng anh là anh hùng, thì cũng chẳng sao. Riêng anh thì anh chỉ làm một chuyện mà anh thấy mình phải làm, giản dị vậy thôi. Kiến nghĩa bất vi phi dũng giả. “Làm cái việc mà mình phải làm” có lẽ là cái đạo lý đẹp nhất của con người, và cũng là cái điều mà những người cùng trang lứa với Đỗ Lệnh Dũng và Lê Thiệp lấy làm phương châm cho đời sống. Chắc đó là sản phẩm của nền giáo dục cũng như xã hội lúc bấy giờ. Điều ấy hình như đã phai lạt dần sau này. Có đáng tiếc không?
Một nhân vật tỏa sáng và hiện diện trong từng khỏang khắc đời sống của Đỗ Lệnh Dũng và do đó lấp lánh trong từng chương sách là cô Dung. Mối tình với Dung và hình ảnh của Dung chưa bao giờ rời Đỗ Lệnh Dũng. Nó là hương hoa của đời chàng và cũng là nơi chàng quay về ẩn náu những roi quất của đời sống. Mối tình của hai người thật đẹp và thật thoải mái. Chỉ tiếc là trong buổi gặp nhau cuối trước khi chia tay mãi mãi, tác giả đã để cho Đỗ Lệnh Dũng “chơi hết một mẹt bún chả”, và khi thấy chàng “ăn lấy ăn để,” cô Dung đã phải nói đỡ cho chàng là “sang Mỹ đâu có chổ nào bán bún ốc bún chả.” Vâng, thưa ông Lê Thiệp dù điều đó có đúng chăng nữa, thì cũng đâu phải lý do để “ăn lấy ăn để” như thế trong một buổi tối đi chơi với ngừơi yêu, vào khi chuẩn bị chia tay nhau trong khung cảnh của một cụôc chiến mà không ai có thể đóan định đựơc tương lai? Tôi nghĩ ngừơi đọc chờ đợi một không khí và hành xử khác của nhân vật trong hòan cảnh ấy. Cũng ở chỗ này, tác giả cho biết hai người ăn xong ở ngõ ASAM thì xuống cà phê Thái Chi, khi bà Chi chuẩn bị đóng cửa. Từ Continental, lang thang đi bộ rồi vào ăn bún ốc bún chả thì tôi ngờ rằng đó là hẻm Casino, tức là đằng sau rạp chiếu bóng Casino trên đường Pasteur chứ không phải ASAM. Nhưng hẻm này lại chỉ bán những thứ bún ốc bún chả vào buổi sáng thôi, nên việc ăn xong xuống bà Thái Chi vào buổi tối, khỏang chín giờ hơn, khi bà sắp đóng cửa e rằng … có gì đó không hợp lý.
Nhưng cũng chẳng sao, cũng chẳng làm xấu đi chút nào hết cái hình ảnh cô Dung dễ thương kia, và cũng chẳng làm hại gì đến toàn bộ câu chuyện.
Đoạn đời tù của Đỗ Lệnh Dũng bắt đầu trước ngày định mệnh 30/4/1975 của tòan miền Nam khỏang 4 tháng, vì theo lời dẫn, thì chi khu Đôn Luân thất thủ vào sáng ngày 7/12/1974, và Đỗ Lệnh Dũng bị bắt làm tù binh khỏang một tuần sau đó. Sau một thời gian ngắn bị giam tại chỗ, cả bị đấu tố trứơc toà án nhân dân nữa, anh bị đưa ra ngòai bắc bằng đừơng bộ, nhập trại tù Yên Bái, sau đó chuyển thành tù cải tạo khi miền Nam thất thủ, cho đến năm 84 mới đựơc phóng thích. Chổ này cũng có điểm không ổn về thời gian.
Tác giả không cho biết đoàn tù di chuyển ngược ra Bắc hết bao lâu, nhưng nếu nói là lúc đang đi chuyển trên đường Trừơng Sơn là mùa mưa, khi tới cầu Bến Hải là lúc đang mưa phùn, rồi khi đến đất Bắc là đang trong cơn tê lạnh (DLD, t. 246), thì có điều không ổn cho lắm. Lý do là vì thời gian di chuyển như vậy phải là nửa đầu của năm, mà mùa mưa thì dù đến sớm cũng không thể trứơc tháng năm được, tức phải là sau khi miền Nam đã thất thủ. Truyện cũng nói là sau khi đến trại tù Yên Bái cả tháng thì mới có tin là Ban Mê Thuột đựơc “giải phóng”, rồi sau nữa, là xe tăng của “quân Giải Phóng” tiến vào dinh Độc Lập. Nếu tính Ban Mê Thuột bị tấn công hôm 10/3/75 và bị tràn ngập sau đó chừng 10 ngày, thì chẳng lẽ chuyến đi vượt Trường Sơn đầy gian truân chỉ kéo dài chưa tới hai tháng thôi sao?
Nhưng cũng có thể lắm vì có khi đoàn tù đựơc chở bằng xe.
Dẫu sao thì chuyến đi đầy gian truân cũng đã đựơc mô tả một cách nhẹ nhàng, có phần hơi lãng mạn là khác khi vẫn còn đọc được Đường thi. Chuyến đi ấy đã trở thành đáng nhớ hơn là đáng hận.
10 năm gian khổ lao tù của Đỗ Lệnh Dũng kết thúc bằng một mối tình đẹp và câu chuyện của chàng là một câu chuyện có hậu - tiền hung hậu cát - Chàng sống thỏai mái sau khi ra tù trong tình yêu thương của vợ con và tình thương nhớ của bố mẹ đựơc thể hiện cụ thể qua những món quà có giá. Nhưng cái quan trọng nhất đựơc thể hiện trong những đọan mô tả cuộc đời tù của chàng, qua các nhà tù từ nam ra bắc rồi lại về nam là chàng ghi nhận mà không thù, kể lại mà không oán vì chàng hiểu cái định mệnh của chàng như thế, và chàng cũng hiểu luôn rằng những người coi tù chỉ hành xử điều mà họ phải làm, hay ít nhất là được phép làm thôi. Tất cả đều sống một đời sống bình thường, làm những điều bình thường và ở đâu thì cũng có người tốt người xấu. Ngay cả khi Dũng đã đựơc ra tù, chàng cũng không thấy cần phải rời xa đất nứơc càng sớm càng tốt như nhiều người bạn của chàng đã làm.
Tóm lại thì ĐỖ LỆNH DŨNG là một truyện hay, nên đọc, nhất là đối với những người ở lứa tuổi của chàng, tức nay ngoài 60. Đọc để nhìn lại một đoạn đời sống của chính mình với khung cảnh không bao giờ còn nữa của Sài gòn những năm 1960, để chia xẻ những đau khổ rất điển hình của Việt Nam sau 1975, và nhất là để hiểu một cách nhìn đời sống, và cách lý giải đau khổ và hạnh phúc, và nhất là để nghe Lê Thiệp kể chuyện, chuyện của một ngừơi khác, nhưng trong đó có chàng, và có cả mọi người nữa ,vì đó chuyện của một đất nước nay không còn nữa, Việt Nam Cộng Hòa.
Cảm ơn ĐỖ LỆNH DŨNG, và cảm ơn Lê Thiệp.
NGUYỄN MINH DIỄM
Virginia, 11/2006
Posted on 24 Jul 2008