Hoàng hôn trên ngã tư Việt NamMẶC ĐỖ

Cùng tâm trạng như cô gái trong phong dao "Chiều chiều ra đứng ngõ sau..." người Việt ở ngoài nước đón đọc sách viết từ trong nước, đọc sách để chia xẻ cảm xúc gợi lên từ hai thái độ của người viết: người ở trong xã hội chủ nghĩa tỏ lộ bực bội, người kẹt trong xã hội chủ nghĩa bực bội đã đành, còn nặng phần chua xót. So sánh NGÃ TƯ HOÀNG HÔN của Văn Quang với những tác phẩm cũng thoát ra ngoài từ trước nhận định thật rõ ràng. Người ở-trong nhìn thấy đen một nửa, trong khi người kẹt-trong cảm thấy ngụp trong cảnh đen toàn diện. So sánh không ngụ ý phê phán thái độ, so sánh để bước tới suy ngẫm sâu và rộng thêm, mong tìm ra một thái độ chung, một quyết tâm chung.
Phải lui lại quá khứ mới thấy rõ nguyên do của sự khác biệt giữa quan điểm của người ở-trong và người kẹt-trong, tuy cả hai cùng một cảnh mờ mịt trong thế bị trị. Dân tộc Việt Nam đã chẳng còn tới ngày nay nếu chẳng có tinh thần quốc gia, tình yêu đất nước, nghĩa nặng đồng bào, tiềm tàng theo thời gian khởi từ huyền thoại Âu Cơ. Ghi nhận như vậy để đánh giá rất đẹp hết thảy mọi biểu hiện tình nghĩa theo dòng lịch sử đất nước. Có khác chăng là hoàn cảnh biểu hiện bị nhuốm những màu sắc dị biệt, trái ngược, kéo theo đủ thứ suy diễn. Suy diễn có thể đưa tới đồng thuận, suy diễn có thể đưa tới đối nghịch. Rủi may do nhiệt tình của từng phe suy diễn, do ảnh hưởng tích cực của ngoại cảnh, mở đường cho đấu tranh đẫm máu, cơ sở tan tành, cụt đường hưng khởi của vận mạng đất nước,
Kiểm điểm một trăm năm vừa qua trên đất nước đã nằm gọn dưới ách đô hộ, qua những biểu tỏ yêu nước ta thấy rõ hai khuynh hướng, một nghiêng theo phía trời Đông, một nghiêng theo phía trời Tây. Phía Đông thu hút trước hết, nhưng kinh nghiệm của các tiền bối đã soi sáng một sự thật muôn đời: cảm tình ngoại bang trước thân phận của ta nếu có cũng dễ dàng phai mờ khi quyền lợi thiết thân của họ được đặt ra. Su hướng tìm sự hỗ trợ ở phía Đông có thể coi như chấm dứt sau kết luận chua chát của Phan Bội Châu: "Vọng ngoại chi ngu." Những vận động sau đó chỉ là những vớt vát vô vọng. Hứa hẹn từ phía Tây trở nên hấp dẫn qua những tiếp xúc trên đất Pháp, do những thanh niên tìm tới trung tâm thử nghiệm dân chủ tự do để theo học, hoặc để mưu cầu một mục đích cá nhân. Những lĩnh hội dân chủ tự do mở cho những người tìm học hai ngả lựa chọn, ôn hòa hay cấp tiến. Phe ôn hòa muốn đòi chính quyền thuộc địa cởi mở lần lần tới thể hiện lý tưởng họ học được ở trường. Phe cấp tiến dựa vào kết quả rỗng không của ảo tưởng ôn hòa để vững lòng tìm ngả khác, Đệ Tam Quốc Tế đón nhận họ.
Bánh vẽ "giải phóng thuộc địa" hứa hẹn ngon ngọt quá, đến độ những người ái quốc đã quên tìm hiểu thực chất của kế hoạch cũng như thực thể của chế độ đòi hỗ trợ cho kế hoạch đó. Chủ nghĩa Mác-Lê được coi như "đỉnh cao trí tuệ loài người" vậy thì con đường từ đồng bằng ngu dốt đưa tới đỉnh cao phải trải qua bao nhiêu nền học kém cỏi khác, không lẽ cứ "Khổng Tử viết" rồi nhắm mắt nhảy tót tới đỉnh cao. Kể từ đầu năm 1931, tại Pháp, Boris Souvarine với tập san "La Critique Sociale" liên tiếp trong ba năm liền đưa ra mặt trái của chính thể đang ngự trị trên Liên sô. Rồi nhà văn lão thành André Gide, thần tượng của từng thế hệ trẻ, sau năm năm tôn thờ nơi "không tưởng đã thành sự thật", năm 1936 được chính phủ Liên Sô mời qua tham quan. Nhà văn bảy mươi tuổi suốt đời chủ trương sự độc lập của ngòi bút đã không ngần ngại viết ra những điều mắt thấy trong chuyến du hành: đại chúng lầm than; cửa tiệm rỗng không; năng xuất công nhân xã hội chủ nghĩa thua xa công nhân các nước tư bản; mức lương chênh lệch; và nhất là hiện tượng mọi người tuyệt đối ngậm miệng. Du ký "Retour de l' U.R.S.S." gây chấn động, mặc dù đám đông trí thức thiên Cộng đả kích thậm tệ đến nỗi Gide phải viết thêm "Retouches...". Lại đến cuộc nội chiến Tây-Ban-Nha, bề ngoài ai cũng tưởng đó là dịp để hai phe Quốc Cộng thi đua cụ thể ủng hộ lý tưởng của mình, sự thật đó chỉ là dịp Staline lợi dụng đàn em Pháp Cộng tận diệt những người cộng sản Đệ Tứ khắp bốn phương kéo tới giúp phe dân chủ chống đối lại phát-xít Franco. Thế chiến II là một dịp nữa bày ra bộ mặt thật của chế độ cộng sản: trong hồi đầu của cuộc chiến chính phủ và quân đội xã hội chủ nghĩa không bảo vệ được lãnh thổ và dân chúng Liên Sô. Sau khi thủ đô sắp mất, tình đất nước cố hữu của dân tộc Nga bùng dậy và chính quyền cộng sản vội nắm lấy chiêu bài ái quốc, lại thêm cơ duyên cũng cố hữu của dân tộc Nga là "ông tướng Mùa Đông", cục diện mới đổi khác, kết quả thắng trận do xương máu và tinh thần của toàn dân Nga chớ không do "trí tuệ" của những lãnh tụ Đảng. Chẳng cần viện dẫn từng nguồn tài liệu, cơ man những nội dung sách, những trang ký sự, phóng sự, trên báo ở cùng khắp thế giới, dài theo thời gian gần một thế kỷ, tất cả chứng minh những sự thật của một chế độ thường lấy "sự thật" làm chiêu bài tuyên truyền. Bấy nhiêu tia sáng chói lói không thể những bậc trí thức Việt Nam cũng như quốc tế, hằng hiển dương xã hội chủ nghĩa, bảo rằng không biết. Biết mà cứ theo tức là chấp nhận những hậu quả đã lường được từ trước. Cũng nên ghi thêm cái cảnh chua chát của thái độ biết/không biết, đó là mưu toan đổ tội, chẳng hạn Kútxép đổ tội cho Staline, hoặc đảng viên trẻ đổ tội cho đảng viên già cứ cố thủ trong những cung điện huy hoàng của "Giai cấp Mới".
Trở lại đất nước ta, cái thế chênh vênh mà những người Việt Nam khốn khổ chúng ta đang lâm phải bắt nguồn từ một hành động lãng xẹt của ông vua cuối trào nhà Nguyễn. Hoàng đế Bảo Đại khi đó chẳng có cách thế nào hơn là để cho Cách mạng kéo xuống và chịu mọi hậu quả tương xứng với những hưởng thụ đã nhận. Muốn để lại một vết tích, nghĩ rằng đẹp, trong lịch sử, ông hạ một tấm chiếu bái bai dân và long trọng trao ấn kiếm cho những người mới cướp chính quyền. Nhân dân ta hồi đó, trong khấp khởi một thay đổi lớn, đã nhìn vào hành động rút lui đó như một chứng tích, và phù thủy Việt Minh được dịp thu gọn trong ống tay áo phần đa số dư luận chỉ nhìn thấy mà không suy xét. Dân ta hồi đó không phải là không có những người tỉnh, nhưng hầu hết các đoàn thể mang danh nghĩa "quốc gia" đều kém tổ chức, yếu truyền thông, thiếu liên lạc quốc tế, lúng túng trong tư thế bất ngờ. Kết quả, những cán bộ nòng cốt của Staline vớ được thượng phong, phóng tay điều động đám người mới "giác ngộ" phất cờ "cứu quốc". Người Việt chúng ta liên tu hằng nửa thế kỷ đắm say trong cuộc cờ yêu nước, một cuộc nội chiến thoát thai từ chống ngoại xâm biến thành một mặt trận nóng của Chiến tranh Lạnh.
Bao nhiêu tình tiết đau thương chúng ta hãy cất đó, lịch sử sau này sẽ định đoạt.
Cái bây-giờ đang nhức nhối không cho chúng ta yên một phút, đứng, ngồi, hay nằm ngủ cho quên đi cũng thế. Cái bây-giờ đó nằm gọn trong 354 trang truyện của Văn Quang.
Truyện gồm những người, những cảnh, những sự việc, những tình tự và rất nhiều lý sự của đủ mặt diễn viên trên sân khấu chính trị, xã hội, kinh tế, bao quanh Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận, thời điểm trong ngoài 1990. Nếu đọc rồi ta đặt cuốn truyện xuống, dễ dàng, bình thản, như trước kia vừa đọc Lê Văn Trương hay thời nay vừa đọc Nguyễn Ngọc Ngạn, ta có thể nghĩ ta không phải là người việt Nam. Từ mỗi trang sách của Văn Quang mọc lên những dấu hỏi: Sao lại có thể thế nhỉ? Phải hỏi thế vì ta chưa quên ta là người Việt Nam. Đất nước và con người Việt Nam xưa nay đâu có thế. Nếu toàn là bịa đặt ta phải lôi Văn Quang ra đánh một trận. Nhưng Văn Quang cầm bút ắt phải biết tự trọng, Văn Quang đâu dám bịa sau khi có hằng nhiều vạn đồng bào từ ngoài nước trở về nhìn lại quê hương. Sự thật chình ình bịa sao được, giấu sao được. Có điều là Văn Quang kẹt-trong quá lâu, và vẫn còn kẹt, Văn Quang nhìn thấy nhiều hơn, xúc cảm mạnh hơn. Văn Quang cũng có thể tò mò hơn những kiều bào/du khách; hay chịu khó tìm hiểu hơn, và mời chúng ta tìm hiểu.
Khoảng chín tháng trước, đầu năm 2001, cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng cũng bắt ta suy ngẫm về đất nước Việt Nam bây giờ. Thoạt tiên tựa sách làm ngứa mũi nhiều người: Một ý niệm trừu tượng sao có thể biết ăn năn? Nhưng vào sâu trong sách độc giả thận trọng tìm hiểu đã không để cho lỗ mũi bị chọc át mất suy xét, sẽ thấy nội dung của sách không cho phép người đọc ngồi yên gãi ngứa. Trong khi Văn Quang bày ra một bối cảnh bi thảm cho ta sợ, Nguyễn Gia Kiểng phân tích con người trong thời thế Việt Nam từ xa xưa cho tới nay cho ta thấy mà lo. Cùng muốn nhắc nhở chúng ta những sự thật mà mỗi người Việt Nam không thể quay mặt đi không cần biết đến, Văn Quang chiếu ống kính vào giữa Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tiêu biểu cho mọi hoạt động phát hiện tưng bừng từ ngày "Di chúc của Hồ Chủ Tịch" thành tựu, tức là từ ngày cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương (danh xưng chính thức thành lập) tiến chiếm miền Nam và thực hiện xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc, Văn Quang chiếu ống kính trong khi Nguyễn Gia Kiểng kiểm điểm toàn bộ sinh hoạt của xã hội Việt Nam qua thời gian để tìm thấy những sở đoản phải cải tiến với hi vọng đất nước phục hưng trước thềm thiên niên kỷ mới. Cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" tới mắt độc giả được chín tháng. Tác động của sách ra sao thì người viết bài này không có tư cách để biết rõ số bán (cứ tạm cho rằng sách bán được có nghĩa là hưởng ứng mạnh, sách bán yếu, độc giả thờ ơ) nhưng căn cứ vào phần lớn những bài phê bình sách đã in trên báo, và dư luận về sách mà một số cá nhân nghe được, thì vấn đề lớn sách đặt ra, nguy cơ ghê gớm đang đe dọa vận mệnh đất nước, xem ra không được cân nhắc ngang như tác giả sách. Phần rất lớn những phê phán chỉ nhắm những chi tiết rải rác trong sách, không mảy may nói lên mối lo chung trước tình thế nguy ngập và cấp bách. Lẽ dĩ nhiên cũng như mọi tác giả khác, người viết cuốn "Ăn Năn" không nhất thiết cứ viết ra điều gì cũng đúng hết. Mỗi lập luận xét rằng không đúng cần được chứng minh ngược lại cùng với đề nghị thuận lẽ hơn. Đó là nói về chi tiết. Nhưng vấn đề lớn tác giả đưa ra, nguy cơ chung, chúng ta có nhìn thấy như tác giả không, hoặc chúng ta có nhìn thấy không? Chỉ nhìn thấy thôi, còn giải quyết ra sao đâu phải việc của một người, một nhóm người trong nước hay người ngoài nước. Vấn đề thật ra được vẽ rõ trước mắt hết thảy mọi người Việt Nam ưu tư vì vận mạng đất nước, tương lai của những thế hệ đến sau. Hương hỏa của tổ tiên để lại những thế hệ theo nhau từ hơn năm thế kỷ nay đã làm hư hao hết, ta đành bỏ lúng ư?
Mấy chục năm trước, ở Sàigòn, tướng Dương Văn Minh có lần ngó lơ mấy lẵng phong lan quay ra với nhà báo: "Phải làm một cái gì." Thời thế hồi đó khiến rất nhiều người muốn làm một cái gì lắm, nhưng hoàn cảnh đã chẳng cho ai làm được gì. Kể từ "Tháng Tư ác độc" cho tới nay, "Khải hoàn môn" mà Dương Thu Hương không dám đề lên đầu sách đã thật sự được dựng lên, tồn tại khá dài lâu giữa rừng cờ đỏ và trong khói pháo mù trời, nhưng chỉ mở ra một quang cảnh: "NGÃ TƯ HOÀNG HÔN", một quang cảnh thảm hại dưới ngòi bút Văn Quang. Lấp kín được quang cảnh thảm hại đó họa chăng có một nỗ lực vĩ đại của hơn bảy mươi triệu người Việt Nam, nỗ lực được sơ phác trong "TỔ QUỐC ĂN NĂN" nhưng cần được rất nhiều tấm lòng cùng ngồi lại bàn thảo, bổ túc từng nét để thành nỗ lực chung, nỗ lực xóa đi hết để bày lại. Hoàng hôn đã xuống trên ngã tư Việt Nam, mỗi người Việt Nam, ở trong cũng như ở ngoài nước, nếu không mau chân đến khi tối đen muốn tìm nhau cũng khó./.
Vãn Tâm MẶC ĐỖ