Chủ Nhật, ngày 5 tháng Chín, năm 2010
 

Tủ sách
Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653 -
Falls Church, VA 22044

email:
info@tiengquehuong.com

Điểm Sách
TIẾNG QUÊ HƯƠNG

 
Biên Khảo
Chính Trị
Hồi Ký
Nghệ Thuật
Thơ
Tiểu Thuyết
Tôn Giáo
Văn Học
 


 

Tủ sách
Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653 -
Falls Church, VA 22044

email:
info@tiengquehuong.com


  • Hồi ký của một thằng hèn
  • TÁC GIẢ VŨ TRỤ KHÔNG CÙNG - NGƯỜI CỦA TẤM LÒNG
  • Đọc sách: NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM chính luận của NGUYỄN THANH GIANG
  • NGUYỄN THANH GIANG với NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
  • Về tác phẩm GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II - VĨ NHÂN THỜI ĐẠI của TRẦN PHONG VŨ
  • TRẮNG TRÊN ĐEN của Ruben David Gonzalez-Gallego CHUYỆN CŨ, CHUYỆN MỚI
  • TÂM SỰ NƯỚC NON: AI GIẾT HỒ CHÍ MINH? của MINH VÕ
  • Về tập tiểu luận TÂM SỰ NƯỚC NON: AI GIẾT HỒ CHÍ MINH? của MINH VÕ
  • VIẾT Ở RỪNG PHONG - ký sự của HOÀNG HẢI THỦY
  • Đọc SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN -- ký sự của HOÀNG HẢI THỦY
  • VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM CHÂN TRỜI TÍM
  • Đọc sách của tác giả Pierre Darcourt -- Dương Hiếu Nghĩa dịch
  • Giới Thiệu Sách Mới: VN, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
  • Đọc sách: VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN, ÂM VANG MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG KHÓI LỬA
  • Điểm sách “SAU BỨC MÀN ĐỎ” của HOÀNG DUNG
  • Nghi vấn "Tại Sao" và lời giải qua tác phẩm của Hoàng Dung
  • Về tác phẩm ĐỖ LỆNH DŨNG của LÊ THIỆP
  • VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC TÁC PHẨM ĐỖ LỆNH DŨNG của LÊ THIỆP
  • NHỮNG NÉT ĐẸP TRONG TRUYỆN ĐỖ LỆNH DŨNG CỦA LÊ THIỆP
  • Đọc ĐỖ LỆNH DŨNG truyện ký của LÊ THIỆP
  • “THƯ GỬI VÀO KHÔNG” tâm bút của MAI NGUYÊN
  • Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật
  • ĐỌC "ĐI TÌM NHÂN VẬT" tiểu thuyết TẠ DUY ANH
  • BỨC CHÂN DUNG VIỆT NAM qua tác phẩm "ĐI TÌM NHÂN VẬT" của Tạ Duy Anh
  • SÁCH MỚI: QUÊ HƯƠNG NGÀY TRỞ LẠI của Lê Mỹ Hân
  • Đọc ký sự QUÊ HƯƠNG NGÀY TRỞ LẠI của Lê Mỹ Hân
  • VAI TRÒ TRUYỀN THÔNG VÀ TRÁCH NHIỆM BỨNG GỐC “THẦN TƯỢNG” HỒ CHÍ MINH
  • Đọc và đánh giá tác phẩm HỒ CHÍ MINH, NHẬN ĐỊNH TỔNG HỢP của tác giả Minh Võ
  • Vài nhận định về TRONG ÁNH LỬA THÙ của UYÊN THAO
  • Đọc THƠ MAI TRUNG TĨNH
  • NGÃ TƯ HOÀNG HÔN của VĂN QUANG
  • Vài nét về NGÃ TƯ HOÀNG HÔN và tác giả VĂN QUANG
  • Đọc TẦN TRUNG TÁC, thơ MA XUÂN ĐẠO - BÀI HÁT BUÔNG PHAO
  • Về MA XUÂN ĐẠO và thi phẩm TẦN TRUNG TÁC
  • ĐỌC SÁCH: CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO của LÊ THIỆP
  • Đọc CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO của Lê-Thiệp những nỗi nhớ không rời...
  • “CHÂN ƯỚT, CHÂN RÁO” - LÊ THIỆP, MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
  • VIẾT VỀ MỘT NGƯỜI MANG TÊN NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
  • Đọc thi phẩm HOA PHƯỢNG của Nguyễn Thị Hoài Thanh TỪ THƠ TỚI NHỮNG MẢNH ĐỜI…
  • NGUYỄN THỊ HOÀI THANH người tiếp nối truyền thống yêu thơ của dân tộc Việt
  • Về tác phẩm GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II VĨ NHÂN THỜI ĐẠI của TRẦN PHONG VŨ
  • Đọc tuyển tập TỬ TỘI của CHÓE Nguyễn Hải Chí
  • Choé và tuyển tập TỬ TỘI -- NGƯỜI LÀM VƯỜN ĐỘC THOẠI
  • BÙI NGỌC TẤN qua tập hồi ký “VIẾT VỀ BÈ BẠN” - NGƯỜI CỦA TẤM LÒNG
  • ĐỌC TÁC PHẨM "VIẾT VỀ BÈ BẠN" của BÙI NGỌC TẤN
  • Đọc thi phẩm HOA PHƯỢNG - NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
  • GIỮA ĐÊM TRƯỜNG - tiếng kêu trầm thống của người “Gác Bút”
  • ĐỌC SÁCH NGUYỄN THỤY LONG: GIỮA ĐÊM TRƯỜNG & THÂN PHẬN MA TRƠI
  • THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ
  • THẾ GIỚI TÌNH YÊU trong THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ
  • Đọc TẦN TRUNG TÁC, thơ MA XUÂN ĐẠO - BÀI HÁT BUÔNG PHAO

    CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

    Ông Trương Tửu chủ trương ông “chỉ viết những chuyện gì chưa ai viết”.
    Tôi rất muốn viết như ông.

    Sáng mùa xuân năm Quí Mùi, ngày 16 Tháng Hai Tây, là ngày 16 Tháng Giêng Ta, từ nửa đêm hôm qua bão tuyết đến Virginia, Xứù Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, giờ này tuyết vẫn đang xuống, có chỗ tuyết đã dầy đến 15 inch.
     Saigon ra giêng đã được 16 ngày, nhưng tôi chắc hương vị Tết vẫn chưa mất hẳn ở Sàigòn. Hôm nay, ngày 16 Tháng Giêng Ta là ngày giỗ ông bố tôi. Giờ này các em tôi ở Sàigòn đang sửa soạn bàn thờ và bữa ăn giỗ họp mặt gia đình vào buổi trưa. Trâu bò được ngày phá đỗ. Con cháu được ngày giỗ Ông! Tôi nhớ ngày 16 Tháng Giêng Ta năm 1989 tôi sống trong Lầu Bát Giác Chí Hòa. Cho đến ngày hôm đó tôi đã năm năm không được ăn giỗ ông bố tôi, nôm na là cho đến ngày hôm đó tôi đã bị ViXi bỏ tù năm năm. Hôm đó cũng là ngày tù nhân khu FG Nhà Tù Chí Hòa được nhận đồ thân nhân gửi vào nuôi, tôi bồi hồi khi thấy trong số thức ăn vợ con tôi gửi vào cho tôi có bịch sôi vò, chè đường. Trong mấy món ăn bà mẹ tôi làm rất ngon có món sôi vò, chè đường. Mẹ tôi vẫn nấu sôi vò, chè đường những khi nhà tôi có giỗ. Hôm ấy tôi ăn chè đường, sôi vò trong tù mà bùi ngùi tưởng tượng cảnh vợ con tôi, các em tôi gặp nhau trong nhà mẹ tôi, cảnh bàn thờ có bức hình ông bố tôi, tôi nghĩ mẹ tôi chắc ăn không ngon khi bà nhớ tới anh con đang ở trong tù.
    Ngày 16 Tháng Giêng Ta năm 1989 tôi được ăn giỗ ông bố tôi trong Nhà Tù Chí Hòa, sáng sớm ngày hôm sau, ngày 17 Tháng Giêng Ta năm 1989, tôi theo anh em lên tù xa ra khỏi Chí Hòa để lên Trại Cải Tạo Z 30 A ở Xuân Lộc, Đồng Nai. Mới đấy thôi mà thời gian đã qua gần 15 mùa lá rụng..

    Và hôm nay, ngày 16 Tháng Giêng Ta năm 2003, tôi liêu lạc ở xứ người, buồn viết về Thơ của một người làm thơ đang sống ở Sàigòn. Hình như chưa có ai viết rằng Nguyễn Du không làm một bài thơ tứ tuyệt nào, hình như ta không có qua một bài thơ tứ tuyệt chữ Hán nào của Nguyễn Du? Hình như các nhà thơ xưa của ta không thích làm thơ tứ tuyệt, các vị làm thơ thất ngôn bát cú không à. Ta chỉ có rất ít bài thơ chữ Hán thất ngôn tứ tuyệt của các vị. Tôi thấy nhiều bài thơ chữ Hán tứ tuyệt là những “truyện ngắn” cực hay. Trong bốn câu thơ ấy có cả một câu chuyện. Như chuyện này:“Ngày hôm nay năm ngoái ở trước cửa nhà này, tôi gặp nàng. Mặt nàng và hoa đào chiếu ánh hồng vào nhau. Hôm nay tôi trở lại đây, không thấy nàng đâu, chỉ thấy hoa đào cười với gió xuân như năm ngoái”. Câu chuyện ấy ở trong bài Thơ tứ tuyệt của Thôi Hộ:

    Khứ niên, kim nhật. thử môn trung,
    Nhân diện, đà hoa tương ánh hồng.
    Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
    Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

    Trước sau nào thấy bóng người. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Không phải “hoa đào năm ngoái”, hoa đào năm ngoái đã tàn từ cuối mùa xuân năm ngoái, mà là “hoa đào năm nay như hoa đào năm ngoái..” Không muốn cứ kể mãi thơ của những nhà thơ Tầu, tôi chuyển sang Thơ Nguyễn Thông, nhà thơ có một số bài Thơ tứ tuyệt chữ Hán. Như bài thơ ông viết khi sáu tỉnh miền Nam đã bị người Pháp chiếm, ông làm quan ở miền Trung ông đưa bà vợ ông trở về quê ông bà ở miền Nam:

    “Mơ về mái nhà xưa ở quê hương em và anh cùng khóc. Em buồn nên em không muốn thay cái thoa trên mái tóc xanh. Để em một mình về quê anh sợ vì em như cánh hoa đào trôi trên mặt nước sông mùa xuân. Mảnh trăng sáng chia đôi chúng ta, anh đứng trên bến nước nhìn theo chiếc thuyền lênh đênh đưa em trở về.”“Truyện ngắn thật ngắn” đó ở trong bài Thơ tứ tuyệt:
    Mộng hồi la trướng, lệ châu san,
    Lãn hoán kinh thoa liễm thúy hoàn.
    Phạ kiến đào hoa xuân lãng khoát,
    Nhị thiên minh nguyệt nhất chu hoàn.

    Truyện ngắn này nữa cũng của Nguyễn Thông:

    “Sách Âm Phù đã mọt, gươm đã hoen rỉ. Khó hẹn được ngày ngựa mọc sừng, ở mãi nơi đất khách tóc mai đã bạc. Đêm qua anh mơ thấy anh về trên sông xưa hưởng món rau nhút, cá vược của quê nhà. Giấc mơ ấy của anh hôm nay theo vòng xuyến của em về quê hương trước.”
    Nguyên văn Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Chữ Hán của Nguyễn Thông:
    Âm Phù thư đố, kiếm ngân ân.
    Mã giác nan kỳ, lữ mấn ban.
    Tạc dạ thuần lô giang thượng mộng,
    Tiên tùy hoàn bội đáo gia san.

    Những ngày cuối năm, những ngày đầu năm liêu lạc ở quê người, tôi gặp một số những “truyện ngắn thật ngắn” nằm trong những bài Thơ Chữ Hán của Ma Xuân Đạo, một văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa từ hai mươi ba năm nay đã và đang sống rất cực khổ ở Sàigòn.

     Bánh xe lãng tử tới Mỹ Quốc được ba năm, vợ chồng Uyên Thao làm chuyến trở về thăm quê hương. Trở sang Mỹ, Uyên Thao mang theo tập Thơ Chữ Hán “TẦN TRUNG TÁC” của Ma Xuân Đạo. “TẦN TRUNG TÁC”, những bài thơ làm trong đất Tần. Thơ mà lại là Thơ Chữ Hán, Thơ Chữ Hán mà là Thơ Chữ Hán Hay, không phải Thơ Chữ Hán Pánh Pò, Pánh Tiu. Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn. Trong phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, an ninh năm chăm phần chăm, nằm đọc Thơ Chữ Hán Ma Xuân Đạo, tôi thấy có những “truyện ngắn” trong những bài thơ của anh làm tôi cảm động.

    Như bài thơ này:
    Giáp Tuất Tân Xuân Khai Bút
    Tần niên yếm thính thế nhân giao,
    Cẩu tuế đương xuân luận cẩu tào.
    Hoán chủ, vong cừu hà vị nghĩa,
    Nghinh lang, trục hổ khởi ưng bao?
    Ninh vi thử nhật thanh phi đại,
    Dĩ đáo kim thời vĩ dĩ dao.
    Nhục đãi, vĩ dao trường bất kiến,
    Cốt dư nhất khẩu hạnh tài phao.

    Dịch nghĩa
    Khai bút đầu năm Giáp Tuất (1994)
    Nhiều năm rồi, chuyện giao tiếp giữa người đời nghe đã chán,
    Năm Chó, Xuân này thử luận về bầy chó chơi.
    Đổi chủ, quên thù sao gọi là nghĩa được?
    Đón chó sói vào nhà và đuổi cọp ra, há đáng khen sao?
    Thà rằng ngày ấy tiếng đừng lớn quá,
    Để đến bây giờ đuôi dễ vẫy,
    Thịt chờ, đuôi vẫy lâu rồi mà chẳng thấy gì cả,
    May ra, người ta sẽ ném cho một miếng xương dư.
    Thơ dịch, cũng của Ma Xuân Đạo:
    Chuyện đời nghe mãi chán tai rồi,
    Năm Chó đem bàn chuyện chó chơi.
    Đổi chủ, quên thù sao gọi nghĩa?
    Xua hùm, rước sói chỉ mua cười.
    Thà rằng thuở ấy đừng to họng,
    Để đến bây giờ dễ vẫy đuôi.
    Đuôi vẫy, thịt chờ đâu chẳng thấy,
    May ra rồi được khúc xương thôi!

    Bài thơ làm tôi cảm động nhất trong Tần Trung Tác là bài:
    Vĩnh Biệt Quân Tình
    (Tức thị Phóng Tra Hành)
    Ngã cảnh khán thư quân dĩ tri,
    Như hà ái niệm bất năng suy.
    Quân thư nhất tự hàm thiên ý,
    Tiếp vẫn quân thư ngã bảo trì.
    Bạch thủ thì trung quân tín báo,
    Khẩn qui Trúc xứ dĩ phùng quân.
    Vị tình bất quản phiền hà sự,
    Lộ phí thôn tu đáo hảo bằng.
    Xa trình thử nhật diên trường ná!
    Dục tốc đằng vân khả nại hà?
    Tịch vũ Miếu Đà thân tẩm ấp,
    Tâm tư tương ngộ cánh khai hoa.
    Lộ đáo quân trang đa bất trắc,
    Chứng thư dĩ khuyết cánh nang không.
    Nhiệt tình niên thiếu như hồi chuyển,
    Hắc ảnh kim tiêu diệc kiến hồng.
    Đối diện do nghi đương mộng lý,
    Bàng hoàng mê tưởng đáo Thiên Thai.
    Tửu hòa tiên dượïc nghiêm đường chước,
    Vĩnh kết duyên tình can thử bôi.
    Tống khách xuất môn sơ tiếp vẫn,
    Đảo điên thiên địa dữ thời gian.
    Chung tiêu khách xá an năng thụy?
    Chỉ đãi bình minh dĩ kiến nhan.
    Minh nhật tùy quân qui Vĩnh xứ,
    Chung Chu nhất bộ bất tương ly.
    Vị đồng khâm chẩm nhi thân cận,
    Tuyệt mỹ ngô tình sơ mộng y,
    Tống tiễn não nhân xa trạm cảnh,
    (Hà thời ly biệt các thương tâm)
    Chuyển xa tư sát thùy tri ngã,
    Hồi lộ sầu thôn ngã thức quân.
    Qui lai trú sở sầu liêu lạc,
    Lữ thứ cô văn tưởng mãn đường.
    Thân tại Thành đô hồn Vĩnh xứ,
    Ước kỳ tái ngộ điểm tinh sương.
    Vấn ngã quân lai viêm nhiệt tận,
    Giao thiên thì tiết ứng nhân tâm.
    Địa đàng quân ngã tùy tương đáo,
    Điên đảo tâm thần dữ chẩm khâm.
    Nhất tiêu khâm chẩm thiên tiêu mộng,
    Sổ lý xa trình vạn lý tình.
    Khoảng khắc ái ân tâm đột noãn,
    Hoang lương vi nhiễu hậu ly đình.
    Mỗi nguyệt sổ phiên quân viễn vấn,
    Chỉ do tình lụy khổ tân thôn.
    Nguyện tương thân hiến như tình hiến,
    Mạc phạ sàm ngôn dĩ ác ngôn.
    Ngã tri trắc ẩn quân tâm động,
    Nhất thế tài hoa mai một cam.
    Tiện kỹ bất năng tầm dụng địa,
    Phạn y hệ lụy bất năng kham.
    Ân ái niên dư như nhất nhật,
    Khổ tân quân thụ thán vô ngôn.
    Mễ đường đề ủng tùy tương vấn,
    Duy vọng nan thời tảo tự vong.
    Nan sự trường lưu như bất tận,
    Khanh đồ đại khiếu tuyệt vô âm.
    Khởi ưng tương bão nhi yêm tử,
    Tra phóng thân cam độc thụ trầm.

    Dịch nghĩa:
    Vĩnh Biệt Tình Em (hay là Bài Hát Buông Phao)
    Cảnh ngộ của anh, xem thư, em đã biết. thế mà làm sao tình yêu vẫn không suy giảm. Thư em một chữ gói ghém cả ngàn ý. Hôn thư em, anh nâng niu giữ dìn.

    Trong lúc anh chẳng có đồng nào trong tay, thì nhận được tin em báo: Phải về Bến Tre (Xứ Trúc) ngay để gặp em. Vì tình, anh chẳng quản chi những chuyện phiền hà, đành nuốt thẹn chạy đến bạn tốt mượn tiền đi đường.
    Đường xe hôm ấy sao dài quá! Muốn nhanh chỉ có cách bay lên mây, nhưng làm sao bay được? Đám mưa chiều ở Rạch Miễu làm anh ướt đẫm, Nhưng nghĩ đến giây phút gặp em lòng anh nở hoa. Đường đến nhà em đầy bất trắc, anh thì thiếu giấy tờ tùy thân, túi lại rỗng. Nhiệt tình thời niên thiếu như quay trở lại, bóng tối đêm nay anh cũng thấy đượm mầu hồng.

    Khi đã đối mặt nhau anh còn tưởng như mình đang ở trong giấc mộng, bàng hoàng, anh nghĩ là trong cơn mê tưởng mình đã đi lạc vào Thiên Thai. Ba em rót ruợu, anh nghĩ đó là rượu hòa với thuốc tiên có công dụng làm bền chặt mối tình đôi lứa nên anh một hơi cạn hết ly. Em đưa khách ra cổng, đó là dịp đầu tiên để chúng ta trao đổi với nhau cái hôn đầu tiên. Cả không gian (đất trời) lẫn thời gian (trước sau) đều đảo lộn.

    Suốt đêm hôm ấy, tại nhà trọ, làm sao anh có thể ngủ được. Chỉ chờ đến rạng ngày để gặp lại nhau. Sáng ngày mai, anh theo em về Vĩnh Long. Suốt tuần ấy, một bước cũng không rời nhau.

    Chưa chung chăn gối mà đã gần gũi thân mật như vậy. Tình chúng ta thật đẹp như mộng ước buổi đầu đời.

    Rồi cảnh tiễn đưa não lòng nơi bến xe, (Thời nào cảnh biệt ly cũng đau lòng) Xe lăn, nỗi nhớ giết người ấy ai biết cho anh? Nhưng trên đường về phải nuốt sầu thì anh hiểu cho em.

    Quay về chỗ tạm trú, anh buồn vì quạnh hiu trống rỗng. Tại nhà trọ, anh nằm nghe nỗi thương nhớ dâng lên tràn ngập căn phòng. Thân anh ở Đô thành mà hồn thì ở Vĩnh Long. Nhớ đến lời hẹn ngày tái ngộ, anh đếm từng ngày.
    Em đến thăm anh khi mùa viêm nhiệt đã chấm dứt. Thời tiết lúc giao mùa đáp ứng lòng mong mỏi của con người. Em và anh đã dìu nhau đến địa đàng, làm đảo lộn cả tâm hồn lẫn gối chăn.
    Một đêm chăn gối ngàn đêm mộng, chỉ vài dặm đường xe mà cả vạn dặm tình. Khoảnh khắc ái ân làm lòng anh chợt ấm lại. Sau buổi chia tay, hoang lương lại vây bọc quanh anh.

    Mỗi tháng vài lần, em từ xa đến thăm anh. Chỉ vì tình lụy mà em phải nuốt đắng cay. Nguyện hiến thân mình như đã hiến tình mình. Không sợ những lời dèm pha và những tiếng ác. Anh biết em đã động lòng trắc ẩn, thương cho một kiếp tài hoa mà đành phải chịu mai một. Nghề mọn không tìm được đất dùng,, sự ràng buộc của áo cơm thực không chịu nổi.

    Thời gian ái ân kéo dài hơn một năm mà như chỉ mới một ngày. Đắng cay em chịu, không một lời than vãn. Mỗi lần đến thăm anh, em phải tay xách, nách mang đường gạo. Và chỉ mong thời gian khó khăn sẽ sớm qua đi.
    Nhưng khó khăn cứ kéo dài như bất tận. Trong đường hầm la thật lớn vẫn không có tiếng đáp lại. Há lẽ cứ ôm nhau để cùng chết đưối. Anh đành buông phao. cam chịu một mình chìm.

    Vĩnh Biệt Tình Em Thơ Ma Xuân Đạo
    Qua thư em đã biết anh nghèo.
    Dẫu biết, em yêu vẫn cứ yêu.
    Mỗi chữ thư em ngàn ý đẹp,
    Ấp thư lên mặt, anh nâng niu.

    Điện em hẹn gặp đến trong ngày,
    Anh chẳng đồng nào còn dính tay.
    Yêu em đâu quản chi phiền lụy,
    Lộ phí thôi đành đến bạn vay.

    Đường xe hôm ấy sao dài quá,
    Nôn nả lòng anh chỉ muốn bay.
    Rạch Miễu chiều mưa mình đẫm ướt,
    Mà lòng hoa nở vẫn reo vui.

    Đường đến quê em đầy bất trắc,
     Mà anh túi nhẹ, giấy tờ không.
    Đam mê như thưở tìm chân lý,
    Bóng tối đêm nay cũng đượm hồng.

    Giáp mặt tưởng như là mộng ảo,
    Ngất ngây hồn lạc nẻo Thiên Thai.
    Ba trao ly rượu hòa tiên dược,
    Trọn kiếp mong bền duyên lứa đôi.

    Tiễn chân ra cổng, nụ hôn đầu,
    Điên đảo đất trời lẫn trước sau.
    Nhà lạ trắng đêm không chợp mắt,
    Nôn nao chờ sáng để tìm nhau.

    Sáng dậy theo em về xứ Vĩnh,
    Suốt tuần một bước chẳng rời nhau.
    Chưa chung chăn gối mà trăng mật,
    Tình đẹp như trong buổi ban đầu.

    Rồi cảnh não lòng nơi bến xe,
    (Thời nào không nỗi hận chia ly)
    Xe lăn đành nát lòng người trẩy,
    Lối cũ sao đau bước kẻ về.

    Trở về chốn cũ thân hiu quạnh,
    Phố trọ nằm nghe nỗi nhớ đầy.
    Người ở Thành đô, hồn xứ Vĩnh,
    Mong ngày tái ngộ đếm từng giây.

    Em đến tìm anh, trời trở lạnh,
    Giao mùa thời tiết của yêu đương.
    Chiếu chăn xô lệch, hồn mê mẩn,
    Hai đứa đưa nhau tới địa đàng.

    Một đêm chăn gối ngàn đêm mộng,
    Mấy dặm đường xa vạn dặm tình.
    Gần gũi phút giây lòng chợt ấm,
    Em về hoang lạnh lai vây quanh.

    Một tháng đôi lần em đến thăm,
    Yêu anh em chẳng kể gian truân.
    Cho tình cho cả đời con gái,
    Chẳng sợ dèm pha miệng thế nhân.

    Anh biết em thương kẻ lỡ thời,
    Tài hoa một kiếp cũng đành trôi.
    Đất dùng không có cho nghề mọn,
    Cơm áo âu thành hệ lụy thôi.

    Ân ái kéo dài hơn một năm,
    Đắng cay em chịu đựng âm thầm.
    Gói đường, túi gạo lần thăm viếng,
    Mong sớm trôi qua thời khó khăn.

    Khó khăn ngày một thêm dồn dập,
    Chờ mãi đường hầm vẫn tối đen.
    Chẳng lẽ ôm nhau cùng chết đuối,
    Buông phao anh chịu một thân chìm.
    1980
     
    Đây là một bài Thơ Tứ Tuyệt Chữ Hán của Ma Xuân Đạo:

    Huyễn Tình
    Địa hạ thủy khuynh nam bả trích,
    Thiên cao tình khứ mạc hồi âm.
    Tích thời nhược bất trầm mê ngạn,
    Kim nhật an năng thoát hoặc tân?

    Tình huyễn
    Nước đổ xuống đất, khó có thể nắm lại từng giọt,
    Tình đã bay lên trời cao, không một tiếng vọng về.
    Nếu trước kia không chìm đắm ở bờ mê,
    Thì ngày nay làm sao có thể thoát khỏi bến hoặc.

    Thơ của Ma Xuân Đạo:

    Nước trót đổ đi  khôn hốt lại,
    Tình đà bay mất khó quay về.
    Nếu không thuở ấy sa bờ hoặc,
    Sao có giờ này thoát bến mê.

    *

    Tôi yêu quí chữ Hán ngay từ thời tôi còn nhỏ. Năm 1957 tôi mua sách dậy tự học chữ Hán về học lần thứ nhất, năm 1960 tôi mua sách dậy tự học chữ Hán về học lần thứ hai; cả hai lần tôi đều không học được. Năm 1967, trước Tết Mậu Thân, tôi được giáo sư Đào Mộng Nam truyền cho bí kíp tự học chữ Hán. Tôi học theo bí kíp của thầy Đào và lần này nhờ thầy, tôi thành công, chỉ bốn, năm tháng sau tôi đọc được Tam Quốc Chí, Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử bằng chữ Hán; khoảng một năm sau tôi dịch, và có lời bàn, truyện Tây Du Ký bản chữ Hán đăng trên nhật báo Sóng Thần cho đến ngày ta tan hàng. Lần cuối cùng duyệt bài tôi học, thầy Đào nói:

    _ Chữ Hán sẽ không bao giờ bỏ anh.

    Thầy nói đúng, Chữ Hán không bỏ tôi nhưng khốn nạn cho tôi, tôi đã bỏ Chữ Hán. Sáu năm tù từ 1984 đến 1990 tôi không được đọc chữ Hán. Trở về mái nhà xưa trong bốn năm tôi không đọc lại chữ Hán, sang Mỹ đã tám năm tôi cũng không đọc lại chữ Hán. Như vậy là tôi đã bỏ Chữ Hán từ năm 1984. Mèn ơi..Thấm thoắt dzậy mà đã gần 20 năm. Không đọïc chữ Hán liền tù tì trong 20 năm, làm gì mà tôi chẳng quên chữ Hán. Mấy năm nay cũng có đôi lúc tôi nghĩ đến chuyện chịu khó đọc lại chữ Hán ít lâu, chịu khó tra Tự Điển Thiều Trửu, tôi sẽ nhớ lại chữ Hán, tôi sẽ lại đọc được sách chữ Hán, nhưng mắt tôi yếu rồi, tôi không còn can đảm làm cuộc học lại bất cứ môn gì. Vì vậy tôi rất thán phục Ma Xuân Đạo khi đọc những bài Thơ Chữ Hán trong tập Tần Trung Tác của anh. Anh cũng tự học chữ Hán như tôi thôi, chắc là với nhiều công phu hơn, nhưng anh làm được Thơ Chữ Hán mà tôi thì đến nay tôi đã quên hết chữ Hán.

    Sau ngày 30 Tháng Tư 75 tất cả các văn nghệ sĩ Sàigòn đều khổ cực, đều bị tù đày, bị đói khổ, bị nhục mạ, bị cấm đoán, bị chết trong tủi nhục..Nhưng thời gian qua, những văn nghệ sĩ đã chết...đã nằm yên trong lòng đất mẹ, những người sống sót đã qua Mỹ Quốc, số văn nghệ sĩ Sàigòn Xưa, Sàigòn Trước 1975 sống ở Sàigòn hiện nay còn rất ít: Thụy Vũ, Hoàng Hương Trang, Nguyễn Thị Hoàng, Lý Thụy Ý tôi không biết bà Tùng Long, bà Lan Phương nay ra sao -Văn Quang, Phan Nghị, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thụy Long, Thế Phong, Cao Nguyên Lang…Tất cả đã qua thời kỳ đói khổ, riêng Ma Xuân Đạo vẫn đói, vẫn khổ.

    Uyên Thao cho biết từ bao năm nay Ma Xuân Đạo sống không hộ khẩu ở Sàigòn, không vợ, không con nghe nói chị vợ Ma Xuân Đạo sau 1975 bỏ anh để theo một anh tài xế xe chở hàng chạy đường dài Ma Xuân Đạo nay ngủ nhờ nhà người quen này, mai ngủ nhờ nhà người quen khác. Nhưng mới đây anh uống thuốc ngủ tự tử, bị chủ nhà phát giác đưa đi cứu, anh không được chết như anh muốn, những người quen anh không dám cho anh ngủ nhờ nữa vì sợ anh có thể tự tử chết trong nhà họ.

    Tôi nói với Uyên Thao:

    _ Tập Thơ này của Ma Xuân Đạo mới thật là Tiếng Quê Hương. Tiểu thuyết Văn Quang, Nguyễn Thụy Long cũng là tiếng quê hương nhưng là những tiếng quê hương đã thoát cơn sinh tử, Tiếng Quê Hương Ma Xuân Đạo là Tiếng Quê Hương Đoạ Đầy Đau Thương, là một trong ngàn triệu tiếng kêu tuyệt vọng dài dằng dặc của nhân dân Sàigòn từ 1975 cho đến bây giờ...

    Uyên Thao nói Tủ Sách Tiếng Quê Hương sẽ ấn hành tác phẩm Thơ Chữ Hán TẦN TRUNG TÁC của Ma Xuân Đạo, với đầy đủ phần Chữ Hán. Trong tập thơ còn nhiều bài tôi thấy hay, hôm nay tôi chỉ mời quí bạn thưởng thức vài món ăn chơi, tôi chờ đợi thấy tác phẩm được xuất bản, ngày đó tôi sẽ lại viết về những tiếng kêu, tiếng than, tiếng khóc của Quê Hương trong Thơ Chữ Hán Ma Xuân Đạo. 
                                           

    CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG 

     

    Posted on 24 Jun 2008


     Contact Us | © 2008 - 2010 by   tiengquehuong.com