NGUYỄN HÙNG NHIÊN
Tác giả vốn là một phóng-viên có hạng của nhật báo Chính Luận và làng báo VN dạo trước 75. Ông được giới thiệu là một nhà báo đầy triển vọng trên báo Người Việt số Xuân 2003. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang của báo Viễn Đông cho biết, ông Lê Thiệp sở-trường và nổi tiếng về lối viết ký-sự, một lãnh vực hiếm có người đeo đuổi. Nhà văn Bùi bích Hà nhận ra lối kể chuyện của CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO thật duyên dáng, hấp dẫn. Ký giả Ngô vương Toại ở Hoa thịnh Đốn, nói Lê Thiệp viết ký sự thật bay bướm, tài-hoa. Và, nhiều người khác đã nhìn thấy một phong-cách viết rất mới mẻ trong CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO: đó là lối văn u-mặc, được xử dụng trong các câu chuyện phiếm, khi tác giả bàn về chuyện đời, chuyện thời-sự.
Ông nhìn cuộc sống và kỷ-niệm dưới lăng-kính lạc-quan nhưng thật sâu sắc, đôi lúc pha nét trào-phúng. Với một lối văn không cầu-kỳ, bóng bẩy, tập ký-sự CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO trông như một gã giang-hồ yêu đời. yêu bằng-hữu, và quê nhà. Và gã giang-hồ tức tác-phẩm ấy, đã kể chuyện đời thật duyên dáng, với nụ cười hóm hỉnh. Gã nhìn bằng hữu của gã với ánh mắt trìu mến, ngưỡng mộ, nhưng thái-độ với kẻ thù Cộng-sản vẫn dứt-khoát mà không phải là cay-cú, khiến người đọc có được những lúc cười xòa khoan khoái với những mẫõu chuyện phiếm có lối châm-chích nhẹ nhàng mà thâm-thúy!
Có người cảm thấy rùng mình, kẻ khác cho biết họ đă ứa nước mắt khi nghe tác-giả kể lại chuyến vượt biển gian truân hơn 20 năm trước. Thong thả thưởng-lãm hết 400 trang CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO, độc giả sẽ thấy nó mang nội dung gần gũi với chính mình, tạo được sự đồng-cảm trong tâm-tư mình. Và, mau chóng nhận ra thật khó mà "lột xác" được, khi thế-hệ lớn tuổi như chúng ta vốn đa-mang bao mối tình-tự quê hương từ trong sâu thẳm của tâm-thức.!
Cuộc phiêu-lưu trên biển
Ly kỳ nhất, là câu chuyện vượt biên của chính tác giả. Với tựa đề Giã Từ Chế-Đoä, nó ngốn mất một phần tư độ dày của cuốn sách, nhưng xem ra đọc vẫn chưa thấy "đã". Ông đã đưa người đọc trở về bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau ngày "giải-phóng", như là một động cơ chính cho những chuyến vượt biển tìm tự-do, tìm lẽ sống mới, bất chấp những hiểm nguy trên biển cả bao la. Ông cùng 47 người khác, xuất phát dự-mưu từ Rừng Sát, đã hoàn thành chuyến vượt biển gian lao, đói khát.ø Khi được tàu Nhật vớt, họ đã bước chân xuống đất liền với lời tâm niệm: "Bổn phận còn lại của chúng tôi trong những ngày sắp tới là đấu tranh cho tự-do cho đồng bào ruột thịt hiện đang sống tại Việt Nam, bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu..."
Câu chuyện vượt biên Giã từ Chế-độ đã được thuật lại một cách "tỉnh queo", thong thả. Những tình tiết sống động, xác thực nối kết nhau, với lối đối thoại gãy gọn, đã lôi cuốn người đọc, như đang thưởng thức một truyện phiêu-lưu, mạo hiểm. Trong sự gan dạ và vất vả của người tổø chức một chuyến vượt biển đông đảo 48 người đó, là một cá tình phóng khoáng, lạc quan, quyện lẫn tình yêu đất nước. Chẳng hạn như khi tác giả mô tả anh tài-công bất chợt giữa lòng biển khơi, lãi dấy lên nỗi bâng khuâng, nhớ những người còn ở lại:
"Ôi Phở. Ôi Việt Nam. Vừa đi tôi đã nhớ. Tôi nhìn chú bé, lòng mềm đi.."
"Người yên lặng nhất bây giờ lại là Tư Nhiễu. Anh hỏi tôi:
-liệu có trở về được không ông? Sao tôi nhớ Việt Nam quá!
-Về chứ. Nhưng đã tới đâu mà về. Bình tĩnh anh Tư! "
Vào lúc những tia hy vọng cứ tắt dần vì con tàu đang bị chết máy, vì sự lãnh đạm của những chuyến thương-thuyền lớn đi ngang qua, vì nỗ lực xé áo cà-sa dùng căng buồm cũng vô hiệu, thì những người vượt biên hóa liều, đâm ra phớt tỉnh:
"Thực sự có lẽ thuyền không đi hoặc đi rất chậm. Đúng ra nó chỉ dạt đi, nhưng ai cũng vui. Tôi nghe Bằng ở mũi thuyền ngâm nho nhỏ: Bể vô tận sá gì phương hướng nữa, Thuyền ơi thuyền xin ghé bến cô liêu. Bài thơ của thi-sĩ Vũ Hoàng Chương chúng tôi đã học với thầy Ý từ hồi Chu Văn An. Tôi nhìn Bằng:
-Ê mày, nhớ ông thầy Trần Đình Ý không?
Bỗng nhiên chúng tôi như coi thường mọi sự. Mấy bà mấy cô đua nhau ra ngồi ngoài sau lái múc nước tắm. Trẻ con thi nhau dội nước lên đầu nhau. Nắng lên dần. Những đồ đạc ướt nhẹp từ mấy hôm nay được đem ra phơi. Cảnh tượng chiếc tàu giống như trại tản cư. Chẳng ai buồn cả..."
Cái đặc sắc của câu chuyện vượt biên, là giọng văn bình dị, không nhuốm vẻ cay cú những kẻ "chiến thắng", không dùng những tĩnh-từ đao to búa lớn như các khẩu hiệu chống cộng để chỉ trích, lên án, mà vẫn mô tả được thế nào là một chính quyền kềm kẹp, nói lên được thân phận khốn cùng của người dân!
Tình tự quê-hương
Liên tiếp các bài "ký" kế tiếp, có thể gọi là những tạp ghi, hoặc Chuyện Ghi Vội bên lềø cuộc sống, Chuyện Phiếm trong cuộc trà đàm, bữa nhậu, mà độc giả nào cũng có thể bắt gặp trong đời thường.
Ở đây, tác giả đặt cái nhìn dưới góc độ một nhà báo chuyên nghiệp . Khi mô tả lại, ông đã dàn trải đầy ắp sự kiện ra để người đọc tự suy gẫm, hơn là ý kiến cá nhân. Từ Một Chuyện Rất Bình Thường, Cái Nhà Là Nhà Của Ta, Mai Này Chúng Ta Cùng Về Việt Nam, đến Xin Các Hạ Bình Thân, Rác Rưởi Đời Sống, Suốt Ngày Lái Xe Như Thằng Phải Gioù, v.v.. tác giả xử dụng lối văn trào-phúng, châm biếm nhẹ nhàng, chế giễu kín đáo. Phải chăng đấy là một lối văn u-mặc thượng-thừa, dễ khiến người đọc bật cười biểu đồng tình, hoặc buông trang sách thẩn thờ trong giây lát!
"Các con tôi mỗi ngày một lớn và tôi hãnh diện thấy chúng hoàn toàn là người Mỹ, từ cách ăn uống đến cách suy nghĩ. Tôi thấy sao Việt Nam mình nhiều thói xấu thế. Ông hỏi, tôi không tiện trả lời, nhưng ông cứ kiếm Người Trung Quốc Xấu Xí hay Tổ Quốc Ăn Năn đọc thì biết hết"
"Tôi chợt thấy mình xa lạ. Tôi thấy mình không thể giống cái ông Mỹ to dềnh dàng lúc nào cũng Isn’t it good. Tôi chợt nhớ đến ông Đồng hàng xóm Việt Nam, khi nào tôi đi hành quân về phép cũng lôi tôi sang nhậu cho bằng được! "
Đã hai mươi mấy năm sống trên đất Mỹ, tác giả tự nhận vẫn như người mới chân ướt chân ráo đến đây. Ông dành nhiều trang nói về kỷ niệm quê nhà, và bắt gặp sự việc gì mới trong cuộc sống Mỹ, cũng liên tưởng tới, cũng so sánh với chuyện cũ của quê hương. Những tình-tự dân-tộc của tác giả, đã thể hiện rõ nét qua các bài ký sự về thú ăn bát phở VN, về trái ổi của tuổi thơ nơi vùng phố Phùng, cùng quê với nhà thơ Quang Dũng của Đôi Mắt Người Sơn Tây, của Đôi Bờ, của Quán Vắng Bên Đường. Tác giả nhắc đến những món ăn Việt nam như món bò kho, rượu đế, về câu con cua, về đàn lợn, để riễu cợt một số quan niệm, hay để khuây khỏa nỗi luyến-lưu hương vị quê hương của những kẻ đành lòng phải bỏ xứ mà đi!
Trong nhiều bài khác, người đọc sẽ nhận ra tuy nói là "chân ướt chân ráo" mới đến đây, nhưng thực ra chỉ có những tay giang hồ, hoặêc là dân chơi lịch lãm, mới biết đứng ở ga xe lửa Đông Kinh húp bát canh miso mà nhớ chiếc xe phở phố Hà Nội trước 54, uống rượu vang, rượu đế VN biết phân biệt loại rượu nào được cất lâu năm , làm bằng giống nho nào, loại gạo nào. Người đọc cảm thấy thật thú vị khi nghe kể về món Gà Tả Tướng Quân, hay chuyên con cá đầu rắn, chuyện xe hơi, chuyện vào snackbar uống rượu!
CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO đã dành nhiều trang vẽ lại những gương mặt bằng hữu đồng nghiệp của tác giả, như Từ Chung, Thái Linh, Uyên Thao, Ngọc Dũng, Hoàng Khởi Phong vv..Tuy mới chỉ là những nét chấm phá, nhưng người đọc thấy được chân dung những nhà văn nhà báo đó, nhờ kỹ thuật tài tình trong lối viết ký sự của tác giả. Ông đã làm nổi bật được cá tính và cách sống của từng người, mà không cần dài giòng, không cần đánh bóng, tô màu! Có phải đấy là một biệt tài của tác giả, nhà báo Lê Thiệp, chăng?
Một nhiếp ảnh gia Mỹ, một nhà sư VN tu học tai Nhật, và một nhân vật chính trị Việt Nam trước 75 (Bác sĩ Đặng văn Sung) cũng đã được tác giả CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO nhắc đến trong bài Xem Ảnh Peter Steinhauer, bài Sư Triệt Học Lận Đận Nơi Nao, và bài Một Tấm Lòng Son Với Nước Non. Ba khuôn mặt nghệ thuật, tôn giáo, và chính trị đó, đã được ông Lê Thiệp dùng ba bút pháp khác nhau khi miêu-tả, càng nói lên cái biệt tài và duyên dáng trong lối viết, trong cách thuật chuyện của ông.
Mỗi người đọc, chắc hẳn sẽ tìm thấy một vài sự đồng-điệu giữa mình vàø tác giả, bởi CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO đề cập đến rất ù nhiều đề tài trong cuộc sống lưu vong hiện nay. Dẫu cho mỗi người nhận ra một nét "hay hay" riêng tùy theo cảm quan từng người khi tiếp nhận tác phẩm CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO, người viết bài này tin rằng chúng ta sẽ đồng-cảm với tâm hồn tác-giả, bàng bạc trong 400 trang cuốn sách ấy, thật khó mà lột-xác được, khi chúng ta còn đa-mang bao mối tình-tự quê hương...
NGUYỄN HÙNG NHIÊN
(California)