MẶC GIAO
Trần Quốc Vượng trong cuốn Trong Cõi có viết: “Nét trội của nền văn hóa Việt Nam truyền thống là văn hóa ngôn từ; nét trội của thức tư duy Việt Nam là duy cảm, duy tình, chứ không phải là duy lý như phương Tây để phát triển khoa học, kỹ thuật, cũng không phải là duy chí như Trung Hoa để phát triển các hệ thống chính trị - xã hội, cũng không phải là duy linh như Ấn Độ để phát triển các hệ thống siêu hình tôn giáo. Do trội về duy cảm mà phát triển mạnh về THƠ (cả một dân tộc trữ tình và làm thơ)”.
Quả thật, người Việt Nam có truyền thống yêu thơ. Kho tàng ca dao, tục ngữ đã chứng minh điều này. Người bình dân ít học hay thậm chí vô học cũng biết làm thơ và “hát” thơ để diễn tả tình cảm của mình và cảm thông với tâm trạng của người khác. Người có học thì dùng thơ để di dưỡng tính tình, bầy tỏ niềm vui, nỗi buồn, hoặc “muốn đem tâm sự ngỏ cùng ai hay”. Nguyễn Thị Hoài Thanh -- xin đừng lộn với nhà nghiên cứu Hoài Thanh -- cũng không đi ra ngoài truyền thống đó.
Tôi đến với thơ Hoài Thanh lần đầu qua bốn câu:
Kiếp sau nếu được làm chim
Tình thương trang trải bay tìm nơi nơi
Giương cung -- đừng nhé người ơi!
Vết thương thuở trước luân hồi còn đau
do giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đọc cho nghe. Câu cuối đã đánh động tim tôi ngay tức khắc. Nó nói nên nỗi “đau đời” quá thâm sâu, dai dẳng của kiếp này mà đến kiếp sau chưa chắc đã nguôi. Chỉ với một câu thơ tám chữ, Hoài Thanh đã diễn tả tài tình và “hết ý” cái đau này.
Sau đó mấy ngày, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã gửi cho tôi bài Một ước mơ về kiếp sau được in trong tập Rừng Xưa Xanh Lá của Bùi Ngọc Tấn (nhà xuất bản Hải Phòng, 2003). Nhờ đó, tôi được biết thêm về thi tài cũng như cuộc đời trôi nổi của Hoài Thanh.
Tôi viết bài này không phải để phê bình thơ Hoài Thanh vì phê bình không phải là chuyên môn của tôi. Tôi cũng không làm công việc “mặc áo thụng vái nhau” như một số người có liên quan đến chữ nghiã thường làm trong thời buổi này. Tôi chỉ muốn viết đôi điều về cảm nghĩ của riêng mình khi đọc thơ của Hoài Thanh với tư cách một độc giả. Nếu muốn nói “bảnh” hơn chút nữa thì có thể gọi là đi tìm cái duy cảm, duy tình của truyền thống Việt Nam trong thơ Hoài Thanh.
Người Buồn, Cảnh Có Vui Đâu Bao Giờ
Tôi thường cảm thấy áy náy cho các thi sĩ hay nhạc sĩ khi họ được hỏi là bài thơ, bài nhạc của họ lấy cảm hứng từ đâu, từ người nào, từ mối tình nào?
Tại sao người hỏi không chịu hiểu rằng nghệ sĩ sáng tác có thể lấy cảm hứng từ chính cuộc đời mình nhưng cũng có thể lấy cảm hứng từ những người và việc ngoài đời, không liên quan gì đến người sáng tác? Nghệ sĩ là người có tâm hồn bén nhậy, dễ rung cảm trước những nỗi vui buồn của người khác, dễ dàng khóc mướn thương vay kiểu “thấy người nằm đó biết sau thế nào?”, không nhất thiết phải có một trăm cuộc tình mới làm được một trăm bài thơ tình. Đó là một thực tế.
Nhưng cũng có một thực tế khác là không có một nghệ sĩ nào có cuộc đời vui vẻ, hạnh phúc mà lại sáng tác toàn những tác phẩm buồn, không có ai sống cuộc đời buồn mà lại viết và hát toàn điệu vui. Chúng ta có Hàn Mạc Tử với thơ điên, Vũ Hoàng Chương với thơ say, Nguyễn Bính với “hoa đồng cỏ nội bay đi ít nhiều”, Nguyễn Du với “hàng thần lơ láo phận mình ra sao”... Thơ của họ phản ảnh tâm sự và chính cuộc đời của họ. Trong trường hợp Hoài Thanh, không cần kiểm chứng cuộc đời của tác giả, chỉ cần đọc thơ, ta đã thấy tác giả có nhiều nỗi buồn hơn niềm vui. Buồn vì cuộc đời không thuận chèo xuôi mái, nhất là không ổn định dưới một mái nhà êm ấm mà người phụ nữ nào cũng mong muốn:
Con đã đi cuối trời cơn ấm lạnh
Con đã đi cay đắng những mùa đau
Nắng cũ chiều hay ngày mới mưa mau
Vẫn chẳng thấy đâu một mái nhà cho con nghỉ
Buồn vì cô đơn, thui thủi một mình, không có người tri kỷ, không có ai chia sẻ nỗi niềm, chỉ một mình với bóng, với đường cũ và trăng xưa:
Sông Cấm ơi! Sông như người bạn mới quen
Thân thiết thế mà không sao hiểu được
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
Sông với tôi với bóng là ba
Giờ em đã cũ con đường cũ
Chỉ gió trăng là vẫn mới thôi
Buồn vì cuộc sống bị gò bó, thiếu tự do. Tự do là sức mạnh giúp người vượt qua sa mạc cuộc đời. Tự do quá trân qúi, nên muốn có, phải sẵn sàng trả với giá cao:
Như cơn gió thổi
Tự do cho cửa trước cửa sau
Tôi như người khát được hớp nước
Thấy mình đủ sức vượt qua sa mạc đời
Ai bán tự do bằng lá biếc
Tôi xin trả mầu xanh lục diệp
Ai bán tự do bằng nước mắt
Tôi xin được trả bằng đời
Buồn vì nhà thanh cảnh vắng, một mình nuôi mẹ, nuôi con, anh chị em thì kẻ qua đời, người ở xa, không có ai ở bên để nâng đỡ, an ủi và san sẻ gánh nặng với mình:
Em nằm bên kia sông
Chợ Cầu Rào chiều hôm nắng tái
Qua chợ dùng dằng
Nửa muốn đi nửa toan ghé lại
Định mua quà cho em nhưng nào biết mua chi
……………………………
Anh đã xa cầu xi măng
Ba mươi năm từ đó
Xa con sông quê nước lợ
Anh có mơ một lần
sóng vỗ giấc mơ anh...
... Mẹ ơi cầu có tự bao giờ? Em hỏi mẹ
Mẹ bảo tuổi cầu cùng với tuổi anh...
Người em nằm bên kia sông Cầu Rào, trong nghiã trang Ninh Hải là Nguyễn Xuân Đăng. Người anh xa nhà từ rất lâu năm là nhà văn kiêm khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh. Cảnh đời của Hoài Thanh éo le đến thế đã quá đủ buồn, không cần kể thêm những mối buồn khác, dù còn rất nhiều. Điều đặc biệt là thơ buồn của Hoài Thanh không não nuột, chua cay, không trách đời trách người, chỉ nhẹ nhàng nhưng rất thấm.
Yêu Người và Yêu Cuộc Đời
Thơ Hoài Thanh toát ra một vẻ nhân hậu, bao dung đối với con người và cuộc đời. Ngay trong lãnh vực tình yêu, một lãnh vực mà các nhà thơ thường có cảm hứng và viết nhiều nhất, với những ngôn từ say đắm nhất hay đau buồn nhất, Hoài Thanh cũng chỉ viết rất ít, tình cảm đằm thắm, không đam mê, có nuối tiếc, ngậm ngùi nhưng không than van, trách cứ:
Tôi yêu anh
Chẳng biết tìm ai mà nói
Đêm tôi đợi
Giấc mơ về
tôi đợi đêm đêm
Sáng giấc mơ qua để lại dấu chân bên cửa
Dấu chân giấc mơ là tia nắng nhỏ
Tôi yêu anh
tôi thầm nói với bình minh
Giá mà cầm được trên tay
Giá mà cầm được những ngày say mê
Giá mà gói được tiếng ve
Gửi người ở tận bên kia nắng chiều
Tình yêu nam nữ không có nhiều trong thơ của Hoài Thanh. Đó là một điều lạ.
Bình thường, số lượng thơ yêu chiếm phần quan trọng nhất trong hầu hết công trình sáng tác của các nhà thơ. Ta không thể nói là Hoài Thanh thiếu cảm hứng về mặt này. Những bài thơ tình dù ít ỏi của Hoài Thanh không thiếu những tình cảm xâu đậm, dạt dào, được diễn tả bằng những hình ảnh và những lời rất đẹp. Ta chỉ có thể đoán rằng tình yêu người và yêu cuộc đời của Hoài Thanh lớn hơn tình yêu lứa đôi, nên Hoài Thanh không muốn quá bi lụy về một thứ tình mà bỏ quên những thứ tình yêu khác.
Cuộc đời đa dạng nên tình yêu cũng trải rộng: Yêu qúy bạn bè, coi bạn bè như một bến đỗ, một chỗ nghỉ chân đầy bóng mát:
Tôi ghé nhà anh
Như người bộ hành
Một chiều mệt mỏi
Xin nghỉ nhờ bóng cây
Bóng cây không từ chối
Như cơn gió thổi
Tự do cho cửa trước cửa sau
Yêu bạn sống rồi yêu bạn chết, nhớ người đã ra đi nhưng tưởng vẫn đâu đây:
Ngỡ như ông vẫn còn đây
Trong từng cánh mỏng phượng bay hè về
Hình như ông hiểu tiếng ve
Tiếng nhện giăng võng tiếng xe đầu ngày
Có lẽ tình yêu lớn lao nhất của Hoài Thanh là tình yêu gia đình. Tập thơ của Hoài Thanh đầy dẫy những bài nói về mẹ hiền, con thơ, cháu nhỏ, anh em đã đi xa.
Ở đề tài này, Hoài Thanh có nhiều cảm hứng và đã viết thành những vần thơ rất cảm động. Trọng tâm của tình yêu này xoay quanh tiểu gia đình của tác giả: những đứa con lúc còn thơ dại và những đứa cháu khi còn tấm bé. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Hoàn cảnh của Hoài Thanh là hoàn cảnh của một gà mẹ một mình ấp ủ lũ gà con, vừa vất vả tìm mồi vừa phải dương đôi cánh che chở cho con trước những đe dọa của nắng mưa, chồn cáo và diều hâu. Khi bắt buộc phải tạm xa con đi làm ăn, lòng mẹ âu lo, khắc khoải, căn dặn đủ điều:
Rồi mai đây mẹ đi vắng ít ngày
Các con ơi đêm thu gió lạnh
Ngủ nhớ đắp tấm vỏ chăn cho ấm
Cửa sổ mở ra cho thoáng gió nghe con
Biết bao lo âu lòng mẹ ngày đêm
Từ khi các con còn là giọt sương trong lòng mẹ
Ngoài những lo lắng cho các con trong hiện tại, tác giả còn lo xa, có thể nói hơi quá xa, là lỡ mình phải nhắm mắt khi chưa đuợc làm bà thì hứa trước đêm đêm sẽ trở về ru cháu ngủ:
Nếu như mẹ ra đi khi chưa kịp làm bà
Thì đêm đêm mẹ vẫn ru những đứa cháu
ra đời trong giấc mộng
Hoài Thanh an ủi các con là nếu mẹ có ra đi thật thì cũng đừng khóc. Mẹ đi bằng thể xác nhưng sẽ lại về với các con bằng linh hồn.
Các con không nhìn thấy mẹ nhưng lúc nào mẹ cũng ở bên các con. Các con đừng buồn, vì “tình thương lớn không thể đo bằng năm tháng”. Nó phải là mãi mãi, thiên thu:
Đừng khóc con ơi! Mẹ ra đi như đêm tối
Bước lặng thầm như thể bóng đêm thôi
Mẹ lại về trong tiếng chim rơi
Trong làn khói cơm thơm lửa reo bếp nhỏ
Lời mẹ chuyện trò lao xao trong lời gió
Bóng mẹ vào ra trong bóng lá xanh tươi
Với thời gian, nỗi lo phải bỏ con ra đi sớm và không được nhìn thấy cháu đã được giải tỏa. Hoài Thanh đã nuôi con khôn lớn nên người, đã có cháu nhỏ để ẵm bồng, nâng niu.
Nhưng con gái chị cũng long đong giống mẹ, phải vào Nam kiếm sống, để con thơ lại cho bà. Bà cháu hủ hỉ sống với nhau và nuôi niềm hy vọng một ngày được mẹ cháu gửi ra xuất vé tầu hỏa để bà cháu ríu rít dẫn nhau xuôi Nam, tìm lại cảnh xum họp:
Bố mẹ chia tay từ đó
Về đây cháu ở với bà
Hai gian chông chênh đầy gió
Sớm chiều bà cháu vào ra
Đêm gối tay bà cháu hỏi
Mẹ sao đi mãi đi đâu
Thương cháu lựa lời bà nói
Thương bà cháu vuốt tay đau...
Bao giờ mẹ cháu gửi ra
Xuất tầu cho hai bà cháu
Bấy giờ lại được ra ga
Tay xách làn, tay dắt cháu
Bóng bà bóng cháu nương nhau
Chính tình thương đã giúp mẹ, giúp bà có thể chịu đựng những vất vả, gian lao, xa cách. Gánh nặng trên vai sẽ nhẹ bớt nhờ có tình thương. Gia tài của tình thương để lại cho con không phải là của cải trần gian, nhưng chỉ là nước mắt và những vần thơ:
Không có gia tài để lại cho con
Chỉ có nước mắt rơi và ngày vui chưa trọn
Và thơ cười đi suốt những đêm thâu
Yêu con người, yêu cuộc đời, Hoài Thanh yêu cả những nơi chốn đã sống hoặc đã ghé qua, nhất là yêu Hải Phòng, thành phố cảng với những hàng phượng vĩ đỏ rực vào mùa hè, nơi chị đã gắn bó nặng tình nhất. Rải rác khắp tập thơ, Hải Phòng được nhắc tới rất nhiều với những địa danh sông Cấm, cầu Rào, cầu Xi Măng, cầu treo Tam Bạc, cầu Sắt, Lạc Tiên, Kỳ Sơn, Hạ Lũng... Mỗi địa danh là một kỷ niệm thân thương đối với chị, dù là kỷ niệm vui hay kỷ niệm buồn.
Chị yêu Hải Phòng đến nỗi công khai “tỏ tình” với thành phố là muôn đời chị sẽ làm gió để “ôm thành phố hát ca”:
Tôi ở Hải Phòng
Dù mai sau tôi sẽ chẳng còn
Thì hoa phượng khắp nẻo đường
vẫn cháy lên mong ngóng
Thành phố hôm nay cất mình gió lộng
Tôi xin làm gió
đời đời ôm thành phố hát ca
Hải Phòng của chị cũng gắn liền với mầu hoa phượng đỏ. Mầu hoa phượng không phải chỉ là mầu hoa học trò báo mùa thi tới hay gợi mối buồn chia ly của những mối tình câm “ai cũng hiểu, chỉ một người không hiểu”, nhưng còn là mầu của rạo rực, đợi chờ của những người yêu nhau dù đã qua tuổi cắp sách đến trường:
Hoa rong chơi từ mùa thu năm ngoái
Hôm nay ghé phố gọi rủ nhau về
Gió đã mở nắng vàng đã chín
Hồn đã say chân đã bước đinh ninh
Trong ngất ngây như có ai cuối phố đợi mình
Nhưng nếu hoa đỏ không đốt nóng được mối tình, nếu chân đã bước đi tìm mà không thấy ai đợi mình cuối phố, thì hoa ơi hoa bừng nở làm chi? Bừng nở với quá nhiều đam mê, hy vọng để sớm héo tàn thì có khác chi cuộc tình cũng thay đổi theo mùa!
Ai hát nữa điều gì thao thức lạ
Hoa khờ dại cháy mình trong nắng hạ
Để thu về tan tác cả lòng ai
Con người tuy luôn hướng về tương lai nhưng cũng nặng lòng với qúa khứ. Hồi tưởng về một quá khứ vui khiến người ta nhớ tiếc nhưng cũng tìm được chút ấm lòng khi lâm cảnh khổ trong hiện tại. Tình càng nặng với một nơi chốn khi nơi chốn ấy gắn liền với những niềm vui và nỗi buồn của một đời người. Xem ra càng nhiều nỗi buồn người ta càng nhớ thương hơn. Đó là lý do Hoài Thanh đã bộc lộ tình yêu Hải Phòng một cách rất đằm thắm, dù sau 1975 chị đã đi và sống tại nhiều nơi ở miền Nam như Đồng Xoài, Tùng Nghiã, Đức Trọng, Di Linh ..., những nơi chị cũng để rơi rớt chút cảm tình, nhưng không đâu bằng Hải Phòng. Thấy hoa phượng nở ở một nơi xa xôi như Xuân Định, chị đã nhận ngay là “đồng hương” và nhớ ngay đến hoa phượng Hải Phòng:
Đứng đó làm chi phượng vĩ ơi
Tuổi cây nay đã mấy mươi rồi?
Đồng hương mình với ta bầu bạn
Quê cũ bây giờ hoa đỏ rơi
Hoa phượng và Hải Phòng đã chiếm một phần không nhỏ và đã được cất kỹ trong trái tim Hoài Thanh:
Thành phố này mỗi bận đi xa tôi cất kỹ
Trong trái tim ở chỗ nghẹn ngào
Có lẽ nào tôi một lần ích kỷ
Ngày trở về bóng đã ngả chênh chao
Dù có yêu thương, nhớ nhung, ngậm ngùi, tưởng tiếc, thơ của Hoài Thanh vẫn điềm đạm, đằm thắm, như một thứ rượu êm không làm người uống say ngay, nhưng thấm từ từ và làm ngất ngư lúc nào không biết. Sự điềm đạm cũng thể hiện trong thái độ đối với cuộc đời. Đó là thái độ chấp nhận hoàn cảnh, dù gặp ngang trái và thiệt thòi.
Chấp nhận không tính toán hơn thiệt, không đổ lỗi cho Trời, cho người hay cho mình.
Chấp nhận không tranh cãi và không muốn nhiều lời:
Thôi anh đừng nói nữa
Chiều bên sông em lại một mình đi
Nước sông trôi như nỗi buồn muôn thuở
Cứ thản nhiên lờ lững chẳng can chi
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Thuở ấy câu thơ trăng bắt được
(Anh đi mà hỏi bóng trăng rơi)
Vì biết chấp nhận hoàn cảnh nên cuộc sống bớt hệ lụy, lúc nào cũng thanh thản như con chim hót hồn nhiên, sẵn sàng nhảy sang cành khác nếu gặp cành gai và lối chật:
Trăng chiều vờ ngủ trong mây
Bếp nghèo ngọn khói cũng gầy ngả nghiêng
Ôi con chim hót hồn nhiên
Cuộc đời chật quá ... em chuyền lên cây
Chấp nhận cuộc đời, dù cuộc đời đã nhiều lần làm cho bầm gan tím ruột, không phải là chuyện dễ.
Hoài Thanh đã làm được việc này vì Hoài Thanh biết rộng lượng với con người và cuộc đời.
Nhận định về giá trị của thơ Hoài Thanh
Như đã nói ở trên, tôi không viết bài phê bình thơ Hoài Thanh. Tôi thường dè dặt khi thấy những nhà phê bình đưa ra nhiều thứ phương pháp luận để xét đoán tác phẩm của người khác, bỏ tác phẩm vào trong những cái rọ hay những cái khung của hiện tượng luận, phân tâm luận, cấu trúc luận, hiện thực xã hội chủ nghiã v.v... để nhào nắn trước khi công bố bản án hay bản tuyên dương. Đọc thơ, tôi chỉ muốn cảm được thơ và thơ cảm được tôi để thích thú với tình ý, tứ thơ và lời thơ. Nếu thơ và người đọc không cảm được nhau thì đó là một thất bại. Lối nhận định có vẻ cổ điển và sơ đẳng này giúp tôi dễ gần gũi với thơ và dễ cảm thông với tác giả hơn.
Về tình và ý trong thơ Hoài Thanh, tôi đã trình bầy ở những phần trên. Đó là những tình ý rất chân thật, rất con người, rất gần gũi với đời thường, không có gì là cao siêu, bí hiểm. Hoài Thanh không luận về triết lý của phận người như Ôn Như Hầu trong Cung Oán Ngâm Khúc, không bàn về thuyết tài mệnh tương đố như Nguyễn Du trong Truyện Kiều, không “nhớ rừng” như Thế Lữ, không thương nhớ nước non Hời như Chế Lan Viên... Tình ý của thơ Hoài Thanh là tình ý của một phụ nữ Việt Nam bình thường, quen thuộc và gần gũi như hàng cau bụi chuối bên nhà.
Khác chăng là nó được diễn tả bằng một tâm hồn bén nhậy, từ một hoàn cảnh có ít nhiều khác biệt. Chính việc diễn tả bằng thơ những tình ý gần gũi hiền hòa này đã nói lên sự tiếp nối truyền thống yêu thơ của người Việt Nam. Người Việt Nam làm thơ, ngâm thơ và hát thơ trong mọi hoàn cảnh.
Nói về tứ thơ, đó là cái gì rất khó định nghiã, là cái cốt yếu làm cho thơ khác với văn xuôi. Tứ thơ có thể là một ý, một lời, một hình ảnh đánh trúng vào tình cảm của người thưởng ngoạn, khiến người đó cảm thấy sững sờ hay thích thú. Nó làm cho những câu thơ có hồn, làm cho người ta thích ngâm nga, thích nghe đi nghe lại.
Chúng ta hãy thử tìm tứ thơ trong những câu sau đây của Nguyễn Bính:
Xóm giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn giập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng chung một ngõ, vội vàng chi anh?
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau...
Câu cuối cùng làm cho đoạn thơ hay hẳn lên. Nó vừa diễn tả một sự e ngại kỳ thú của kẻ ăn vụng sợ người biết, vừa là một lời xác nhận tình yêu, vừa là một lời hứa hẹn rất tình tứ. Đó là tứ thơ nằm trong ý. Bốn câu thơ sau đây của Vũ Hoàng Chương lại có tứ thơ kiểu khác:
Sao đọng kim cương sáng ngập bờ
Lúa-thì-con gái mượt như tơ
Gốc đa cổ thụ duyên còn đượm
Và cái trăng vàng quá lẳng lơ
“Sáng ngập bờ” làm người đọc thấy trăng sao in hình trong làn nước ngập tràn bờ ruộng. “Lúa-thì-con gái mượt như tơ”, mới đọc lên người ta có thể hiểu chữ “thì” là động tự đi trước những tiếng chỉ trạng thái (to be, être). Đúng ra, “thì” này là “thời”, lúa vào thời con gái tới tuổi dậy thì mới mượt như tơ, nhưng chữ “thì” đắc địa hơn chữ “thời” cả về cách nói lẫn âm điệu. “Cái trăng vàng” làm tăng thêm cái “lẳng lơ”. Vì thế, không thể thay thế bằng “mặt trăng” hay “ông trăng”. Tứ thơ trong trường hợp này nằm ở lời và hình ảnh.
Dĩ nhiên khó có thể so sánh tứ thơ trong thơ của Hoài Thanh với thơ của Nguyễn Bính hay Vũ Hoàng Chương. Không thể nói chuyện hơn thua vì mỗi người có nét độc đáo riêng. Phải nhận rằng tứ thơ của Hoài Thanh cũng rất đặc sắc, có khả năng làm cho những câu thơ nên đẹp và đánh động lòng người đọc:
Giương cung đừng nhé người ơi!
Vết thương thuở trước luân hồi còn đau
Hai câu trên đã diễn tả rất thơ những nỗi đau còn kéo dài, vết thương vẫn nhức nhối từ kiếp này sang kiếp khác. Đó là tứ thơ nằm trong ý với hình ảnh diễn tả theo câu văn cổ “cung kinh chi điểu” (con chim sợ cây cung). Hai câu sau lại có tứ thơ kiểu khác ý hay và lời đẹp:
Tiếng gà xưa thức trong mơ
Tiếng xanh sợi tóc thuở chưa đổi mầu.
Tiếng thì không thể có mầu. Vậy “tiếng xanh sợi tóc” là tiếng gà gáy trong mơ, mơ về thuở thanh xuân. Tứ thơ rất đạt. Ở một trường hợp khác, tứ thơ của Hoài Thanh lại rất gần với ca dao:
Giờ thì ước được như trăng
Bao nhiêu tuổi vẫn ngang bằng ngọn tre
Tứ và lời của hai câu thơ này làm chúng ta liên tưởng tới hai câu ca dao được hát trong một bài quan họ:
Sáng trăng xuông sáng cả cái đêm hôm rằm
Nửa đêm về sáng (chứ) trăng bằng cái ngọn tre
Có thể nói tứ thơ trong thơ của Hoài Thanh cũng giản dị, đôn hậu, rất gần với ca dao. Điều này lại càng xác định thơ của Hoài Thanh rất gần với dòng truyền thống của thơ Việt.
Cuối cùng, nói về thể thơ và lời thơ, tôi cũng không căn cứ vào thơ cổ, thơ cũ, thơ mới, thơ tự do hay thơ tiền vệ để làm tiêu chuẩn cứu xét và so sánh.
Về thể và vần, ta có thơ cổ ảnh hưởng thơ Trung Hoa (thất ngôn bát cú Đường luật, tứ tuyệt, ngũ ngôn...) với cước vận (vần gieo ở chữ cuối câu), thơ truyền thống Việt Nam với vừa cước vận vừa yêu vận (gieo vần ở một tiếng giữa câu: lục bát, song thất lục bát), thơ mới không theo luật nào, câu dài ngắn tùy thích, nhưng vẫn gieo vần ở những chỗ cần gieo để đọc lên nghe du dương, thơ tự do vừa phá luật vừa không cần vần. Nhưng dù là thơ mới hay thơ tự do, câu thơ vẫn phải có âm điệu, vẫn phải súc tích, vẫn phải có những lời chọn lọc đặt đúng vị trí, tất cả để “cảm” lòng người đọc và để xác định đó là thơ, không phải văn xuôi. Hoài Thanh không làm thơ cổ, nhưng rất nhuần nhuyễn trong thể thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ và thơ sáu chữ. Hoài Thanh cũng xử dụng thể thơ mới có vần một cách rất điêu luyện:
Vết thương cũ chưa lành
Vết thương sau còn mới
Người đã bỏ đi mà ta vẫn đợi
Như sen trong hồ khát hạ để hồi xuân
Ta đợi người ban trưa nắng cũng tần ngần...
Nhưng đa số thơ mới của Hoài Thanh không có vần, hoặc không chú trọng vần, chỉ thỉnh thoảng gieo vần ở một đôi câu một cách rất tình cờ:
Tôi ở dưới vực sâu kêu lên
Tôi chỉ xin
một ánh trăng cô đơn
tỏa xuống vực sâu để cứu rỗi linh hồn
Điều đặc biệt là lối làm thơ thoải mái không vần, không giới hạn câu, chữ của Hoài Thanh không thể xếp vào thể thơ tự do, bởi lẽ những câu thơ đó có vẻ không được cố tình làm mới (hay làm dáng), không kéo dài lê thê, vẫn ngắn, gọn, ít lời và có nhạc điệu của thơ:
Tôi yêu anh tôi kể với đám mây
Gió thổi mây bay đi
Tôi kể với cơn mưa
Mưa thành suối ra sông gặp biển
Tôi kể với con mèo
Mèo bỏ ra sân tìm nắng
Tôi yêu anh
Chẳng biết tìm ai mà nói.
Về lời thơ, chúng ta đừng mong tìm được những chữ “xuất thần” hay cầu kỳ trong thơ Hoài Thanh. Ý thơ, tứ thơ của Hoài Thanh đã dung dị thì lời thơ cũng không đi ra ngoài đặc tính ấy. Điều đó không có nghiã là lời thơ của Hoài Thanh không hay, không có nhiều chất thơ. Thí dụ những câu sau đây, lời thơ tuy giản dị nhưng chữ dùng rất “đắc địa” và rất “thơ”:
Nắng trưa thì trú tàn cây
Tuổi thơ trú ở những ngày bâng khuâng
Người đi ta hỏi cầu vồng
Con đường ấy có còn không ở trời
Ngoài ra, thơ của Hoài Thanh còn có đặc tính “lời ít nhưng nói nhiều”. Hoài Thanh không kể lể, không bi thảm hóa những chuyện đáng lẽ là bi thảm. Chỉ bằng một câu hỏi và một câu trả lời, Hoài Thanh đã diễn tả được nỗi nhớ nhung người anh đã xa nhà từ lâu:
“Mẹ ơi cầu có tự bao giờ?” -- em hỏi mẹ
Mẹ bảo tuổi cầu cùng tuổi với anh
Chỉ cần nhắc chuyện mua bán khi đi qua một ngôi chợ, Hoài Thanh đã nói lên nỗi đau đớn của một người chị khóc em đến không còn nước mắt:
Chỉ một thứ chẳng ai cần mua là nước mắt
Em mặc cả với đời mang nó đi theo
Tôi ngạc nhiên khi đọc thơ Hoài Thanh.
Ngạc nhiên vì không hiểu tại sao thơ Hoài Thanh đã “cảm” tôi một cách dễ dàng như thế?
Ngạc nhiên vì những vần thơ dung dị, gần gũi đã nói lên được nỗi lòng và hoàn cảnh của một kiếp người, một kiếp người Việt Nam, đặc biệt là một phụ nữ, phải kinh qua trong một giai đoạn thăng trầm qúa dài của đất nước với rất nhiều đổ vỡ và chia ly. Dù vậy, thơ Hoài Thanh không là tiếng khóc than, kêu gào. Thơ Hoài Thanh chỉ là những lời tâm sự của một người bạn, rất ôn tồn, nhẹ nhàng nhưng thấm thiá. Tôi cảm nhận thơ Hoài Thanh như thế và tôi nghĩ rằng đất nước này, dân tộc này vẫn còn vô số những “thi sĩ cần được khám phá”, cần được giới thiệu như Hoài Thanh để những vần thơ hay và đẹp không bị mai một và di sản văn hóa Việt Nam không bị thiệt thòi.
Một ngạc nhiên khác đến với tôi là sau khi tôi viết một bài ngắn giới thiệu thơ Hoài Thanh trên một nguyệt san xuất bản tại California, tôi được mấy người bạn cho biết Hoài Thanh là bạn học với họ và với tôi tại trường trung học Nguyễn Khuyến, Nam Định vào đầu thập niên 1950. Như vậy là bạn cùng trường nhưng khác lớp. Họ đã liên lạc với Hoài Thanh và Hoài Thanh đã gửi cho tôi một bài thơ để nhận nhau là bạn đồng môn. Vào dịp đón Xuân Bính Tuất, Hoài Thanh lại gửi cho tôi bài thơ Tôi ở Hải Phòng. Tôi cảm thấy mình sẽ thiếu sót nếu không đáp lễ bạn. Vì vậy, dù không có tài làm thơ, tôi cũng đem tâm tình viết ít câu để tặng Hoài Thanh. Bài thơ này chị Hoài Thanh đã đọc rồi. Tôi xin chép lại sau đây và xin coi đó như lời kết luận của bài nhận định này:
Tính Sổ Đời
Tôi ghé Hải Phòng 50 năm về trước
Để lãng du xa mãi chốn quê nhà
Đâu có biết ngày chân cầu sông Lấp
Bạn đồng môn khuya sớm vẫn vào ra
Đời muôn hướng mỗi người trôi mỗi ngả
Vận nước non chìm nổi lắm thương đau
Khi tóc trắng tính sổ đời vay trả
Thấy phận người đều thua thiệt như nhau
Còn lại chăng là trái tim chưa héo
Vẫn còn rung vì còn biết yêu người
Không cằn cỗi dù tình đời lắt léo
Trái tim này đến chết vẫn còn tươi
MẶC GIAO