TÂM AN
Một trong những nhà văn miền Nam nổi tiếng trước 30/4/75 còn ở lại quê nhà hiện nay là nhà văn Nguyễn Thụy Long. Ông được biết đến nhiều qua những tác phẩm tình cảm và xã hội mô tả đời sống của những người dân lao động, hoặc giới giang hồ tứ chiếng. Với khoảng trên dưới 30 năm cầm bút, ông viết đủ thể loại từ truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết được đăng rải rác trên báo chí. Những tác phẩm của ông phát hành ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Cộng Hòa, theo lời ông, là một gia tài khấm khá mà ông đã tạo ra được. Cái gia tài ấy là những đứa con tinh thần được kết tinh từ tim óc của ông trong suốt mấy chục năm, ngày nay bị ghép vào loại tác phẩm đồi trụy, bị tịch thu và thiêu hủy gần hết. Ông viết... “Tôi không thể không nhớ lại ngày đứng nhìn những tác phẩm của mình, của bạn bè đồng nghiệp, của các bậc tiền bối, bị thiêu hủy ở nhiều con đường trong thành phố, vì chúng mắc tội được ấn hành ở miền Nam, dưới chế độ đối nghịch. Việc này đúng hay sai, lịch sử phán xét. Tôi không thể không nhớ đến hình ảnh ông cụ học giả ở gần nhà đứng khóc trước đống tro tàn. Cụ nhìn tôi, ôm đầu: "Tôi chóang váng quá!". Tôi nói "Bởi tại mình bị tát tai, bị đá mạnh quá đó thôí".

Và ông tâm sự “có người hỏi tôi: viết lách của cậu bây giờ ra sao rồỉ tôi trả lời: Viết lách bây giờ là chuyện khó, nhất là đối với các nhà văn nhà báo thuộc chế độ cũ, hoà nhập được là chuyện rất khó, vì không được "đào tạo trưởng thành trong chế độ cách mạng", nói theo danh từ thời thượng. Vô hình chung họ bị gạt ra ngoài lề. Mặc dầu vẫn nghe lời tuyên truyền xoen xoét " rằng thì là "cửa ngõ văn nghệ mở rộng như cửa chùa, ai muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Ra thì dễ chứ vào thì khó đấy, bao nhiêu cửa ải phải vượt qua, có thể đến thập bát La Hán trấn cửa. Lọt qua được cũng phờ râu tôm, cuối cùng mềm như bột, người ta muốn bóp nặn theo hình dạng nào cũng được…”
Sau ngày 30/04/1975, cùng chịu chung số phận với những nhà văn, nhà báo khác của miền Nam, ông đã phải buông bút để kiếm sống bằng đủ thứ nghề bần cùng nhất trong xã hội. Ông tự lột xác để biến mình thành một bần cố nông ít học, một tay du thủ du thực tứ cố vô thân. Chỉ riêng đoạn đời thăng trầm của ông sau biến cố 30/4/75 vẫn chưa đủ chỗ để gói ghém trong 3 tác phẩm mới nhất của ông. Sau 25 năm mất quyền cầm bút, cuối cùng ông quyết định không "làm thinh" nữa. Làm thinh là chữ của NTL. Động từ làm thinh được coi như công việc nghề nghiệp. “Anh sống thế nào thì mặc kệ anh, sự sống quý giá như thế đấỵ Ngược lại với câu khẩu hiệu mà người dân Sàigòn nào cũng được nghe từ hơn hai mươi năm trước: Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói. Hai chữ làm thinh phản bác vào câu khẩu hiệu có tính cách đe dọa kia...Tôi đã từng trả lời ai đó hỏi tôi làm nghề gì. Tôi trả lời làm thinh cho yên.”
Bây giờ thì ông không làm thinh để để được sống yên. Ông tự ban phát cho mình quyền tự do phát biểu và tự do tư tưởng, chấp nhận bất cứ hậu quả khốc hại nào xảy đến cho bản thân và vợ con ông. Đây là thái độ của một người cầm bút không thể chối bỏ trách nhiệm đối với dân tộc và quê hương. Hay nói cho đúng hơn thì đây là thái độ của một kẻ sĩ giữ vững ngòi bút, đang lội ngược dòng thác cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Ông trải tư tưởng và nỗi uất ức trong 3 tác phẩm hồi ký Viết Trên Gác Bút, Giữa Đêm Trường và Thân Phận Ma Trơi, đã được Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản tại Mỹ vào khoảng cuối năm 2000. Ông kể lại những mẫu chuyện đời của các văn hữu, những người từng một thời vang bóng nhưng trong suốt 25 năm qua, đã phải sống hẩm hiu trong thân phận ma trơi. Ông ghi lại trung thực những điều tai nghe mắt thấy trong cái thế giới khốn cùng của những con người bị mất quyền công dân và bị lưu đày trên chính quê hương mình. Theo nhà văn Uyên Thao, một người bạn thân của NTL, thì ông “viết bằng cảm xúc của một nạn nhân bị dập vùi, viết về những thân phận bị dập vùi và viết bằng ý tình chân thật của một con người chưa biến dạng”.
Nhưng Nguyễn Thụy Long là một người như thế nào? Hãy nghe ông tự mô tả về mình: ... “Ngang bướng, lắm điều, cứng đầu. Đó là tôi, Nguyễn Thụy Long, tự nhận là một kẻ một đời vác ngà voi. Tôi có thể bị điên khi những chiếc ngà voi vuột khỏi tay tôi. Tính tôi thế đó, tuổi trẻ sống buông thả, hay láo xược, về già vẫn chẳng nhìn nghĩ một sự kiện gì, vẫn ưa chọc phá, và cười cợt như thuở nào. Cái thói ngạo mạn xằng có đánh chết cũng không chừa...”.
Với văn phong có lúc lạc quan một cách chua chát, có lúc xách mé châm chọc, bông lông diễu cợt và cũng có lúc ngậm ngùi, ông dẫn người đọc đi trở lại những chặng đường tăm tối ông đã đi qua, nơi mà ông đóng hết vai nọ đến vai kia trên một sân khấu đời rộng lớn. Khi thì ông là người lượm bao ny lông tái sinh, khi thì ông đi tải hàng lậu, đi thu mua bạc vụn, sửa xe đạp, bơm mực bút bi, và cuối cùng là nghề bán xôi khi sức lực không còn để tiếp tục bương chải. Ông không thành công trong bất cứ vai trò nào, nhưng cảm xúc của ông lại rất thực vì những trăn trở dày vò và những nỗi bất hạnh cùng cực đè nặng lên đời ông.
Bây giờ viết lại trong một hoàn cảnh hết sức bất lợi cho bản thân, NTL không lấy bút hiệu khác, vẫn giữ cái tên đã thành danh ở miền Nam Việt Nam trước đây. Ông không viết như một lý thuyết gia viết sách rao giảng tư tưởng đấu tranh và cũng không tự ban cho mình vai trò phản kháng khi viết. Ông viết một cách giản dị, trung thực, không gò bó, không có tham vọng dàn trải một tư tưởng vĩ đại nào trên những trang giấy.
Ông nói ông cầm bút viết vì "Địa cầu huyên náo. Tôi cũng có sự huyên náo của riêng tôi. Những bức xúc có căn nguyên, những buồn vui, những hậm hực, tôi nhả ra hết, có sao nói vậy, quên luôn cả lời mẹ dậy "tránh voi chẳng xấu mặt nào" hoặc "một điều nhịn là chín điều lành". Tôi cóc cần rồi. Tôi không muốn sống như cục thịt hoặc như một nắm xương khô...Tôi leo lên căn gác bút ọp ẹp, xuống cấp trầm trọng của tôi múa bút vung vít, chẳng có mưu đồ gì hết. Tôi múa may một mình thật cô đơn nhưng thật là tự do.Vũ điệu cũng có thể là múa rối mà tưởng rằng mình múa ballet. Hiểu sao cũng được. Cũng vui được tuổi già dù cô đơn trên căn gác bút”.
Mặc dù ông nói vậy nhưng điệu vũ của ông rất ngoạn mục. Ngòi bút của ông như ngọn đèn pha soi rọi vào mỗi chi tiết, mỗi góc cạnh tăm tối trong bức tranh xã hội dưới chế độ Cộng Sản để ta có thể nhìn thấy được những con người sống lúc nhúc như dòi, như súc vật, trong tù, trên hè phố, giữa đêm trường. Sống vất vưởng như ma trơi trong một xã hội không còn luân thường đạo lý và tình người.
Bức tranh xã hội chủ nghĩa mà nhà nước CSVN cố gắng tô son vẽ phấn đã bị lột trần tơi tả và thô bạo dưới ngòi bút của NTL. Ông có đầy đủ chất liệu để viết sau bao nhiêu năm lăn lộn sống giữa đám người cùng khổ, sống lăn lóc như con ma vất vưởng trên thế gian. Ông làm đủ thứ nghề lao động chân tay, ngủ lang thang trên hè phố, sống chui rúc trong khu nghĩa địa bên ao cá. Nghèo khổ như thế nhưng ông vẫn giữ được tác phong của một người hiền sống giữa những con người đã mất hết nhân tính. "Cái thân khốn khổ của tôi sống không muốn nổi nữa thì chết có nhằm nhò gì. Nhưng còn sống ở thế gian ngày nào tôi còn phải sống cho ra trò. Tuy cái miệng tôi có láo lếu nhưng tôi tự biết mình là người hiền, nên sẽ được hưởng phúc". Và giữa những bầy thú đói sẵn sàng giết nhau để sinh tồn, NTL cố giữ một niềm lạc quan, trân trọng cuộc sống để khỏi nổi điên, và không gục ngã. Có lẽ chính vì vậy ông mới vượt qua được những khoảng thời gian mà đời sống của ông bị vùi dập đến tận cùng, và vượt qua được cơn bệnh ngặt nghèo trong cảnh bần hàn để tiếp tục sống vững chãi và can đảm.
Trong tập hồi ký Giữa Đêm Trường, ông viết về những kỷ niệm đã có với các văn hữu. Những người bạn văn còn kẹt lại như nhà thơ Tú Kếu, nhà văn Lý Hoàng Phong tức Đoàn Tường, và những người bạn đã khuất bóng như đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh, nhà văn Dương Hùng Cường, tài tử Huy Cường, kịch tác gia Trần Lê Nguyễn, thi sĩ Bùi Giáng v.v... Ông nhắc đến từng người bạn một cách thương xót và trìu mến.
“Tiếng ễnh ương kêu buồn bã trong đêm gây buồn gây nhớ. Nhớ lắm, thương lắm, hỡi những người bạn của tôi. Các anh thoắt hiện thoắt biến trên cõi đời. Còn lại những kỷ niệm, những cái các anh để lại, mà tôi không thể nào quên. Tôi viết hay tôi đang gậm nhấm những kỷ niệm? Tôi tự do trong tôi, tôi vẫn nghĩ thế. Đọc một quyển sách, một bài thơ, nghe lại một đoạn nhạc, một lời ca, do các anh sáng tác tôi lại nhớ đến các anh, lại nhớ nhung, lại ngậm ngùi. Như thấy các anh còn hiện diện. Những người bạn nghệ sĩ của tôi, nếu chứng kiến cái chết từ từ của các anh, như cây nến cháy tự ăn mình, tôi càng thêm chua xót”.
Ở một đoạn khác, kể hoàn cảnh của nhà văn Lê Xuyên đã hơn 70 tuổi còn phải ngồi bán thuốc lá lẻ ở một góc đường để nuôi người vợ đau yếu và 2 đứa cháu ngoại mồ côi mẹ, ông viết... “Tôi về đến nhà ở ấp Đông Ba xưa vào buổi trưa, mở truyền hình lên coi. Tôi nhận được tin cơn bão số 6 đang trên đường đổ vào bờ biển Việt Nam. Tôi nghĩ hoài về nhà văn Lê Xuyên. Mưa ập xuống ngập đường như sông. Trên con đường Lê Xuyên có khiêng nổi xe thuốc đội lên vai lên đầu để tránh ướt không, bảo vệ cái vốn liếng nhỏ bé, duy nhất của gia đình anh trên đôi vai còm cõi. Tôi lo lắng thương xót bạn, thầm cầu xin sự an lành đến với anh. Năm hết tết đến rồi. Anh từng nói, từ lâu rồi anh không có mùa xuân”.
Trong tập truyện ngắn Thân Phận Ma Trơi, nhân vật thường là những người dân sống trong những xóm lao động nghèo nàn tối tăm, xa cách với ánh đèn màu của chốn phồn hoa đô hội. Không gian không có màu sắc tươi mát của thiên nhiên, và cũng không có chất thơ. Nhưng những câu chuyện lại đầy ắp cảm xúc với diễn tiến đến dồn dập, đi từ bối cảnh này sang bối cảnh khác khiến người đọc như quên cái thế giới mình đang sống để bước hẳn vào một thế giới văn chương tối tăm ánh sáng và bát nháo của NTL.
Trong cái thế giới ấy có một Bà Mẹ Sương Sa có chồng chết thời kháng chiến chống Pháp và 2 thằng con, một đứa chết vì đánh nhau với Việt Cộng, và đứa kia chết vì đi lính Nghĩa Vụ Quân Sự. Có một nhà văn hết thời ngủ bờ ngủ bụi với gia tài chỉ có cái túi và một cái mền rách bươm. Có một gia đình mẹ mìn đem trẻ con cho ăn mày mướn để lấy tiền sống. Có những những người tù bị đày ải trong địa ngục trần gian và những tên công an Cộng sản tham lam với phương pháp tìm vàng độc đáo có một không hai. Một thế giới hỗn mang với những nhân vật điển hình mang cá tính của những con người bằng xương bằng thịt ở ngoài đời, được NTL mang vào tác phẩm của ông.
Tập truyện Thân Phận Ma Trơi gồm 13 truyện ngắn. 8 truyện đầu viết trong những năm 1978 đến 1999. 5 truyện sau viết từ những năm 1958 đến 1965. Nếu thử so sánh những truyện ngắn tình cảm xã hội viết dưới thời Việt Nam Cộng Hòa và những truyện ngắn viết thời hậu chiến tranh tức sau 30/4/ 75, cùng nằm trong tập truyện Thân Phận Ma Trơi, người đọc sẽ nhận thấy có một sự khác biệt.
Trước 1975, truyện của NTL tuy có vẻ gần với thực tại nhưng vẫn mang một chút hư cấu, có những yếu tố bất ngờ, lạ lẫm đối với người đọc. Nhân vật của ông sống trong chế độ Cộng Hoà dù là những người dân nghèo thấp cổ bé miệng trong xóm lao động với ngôn ngữ ngổ ngáo, bình dân, nhưng họ vẫn có được cái sinh hoạt bình thường của con người văn minh, có quyền tự do để tự định đoạt cuộc sống của mình, có đạo lý, và tình người.
Truyện của NTL viết sau 1975 tưởng là hư cấu nhưng lại phản ánh tất cả những gì đang xảy ra hàng ngày trong đời sống thực tế ở VN dưới chế độ Cộng Sản. Cảnh người ta sống lây lất trên hè phố, ngủ ở hàng hiên vì không có hộ khẩu, cảnh nhà giam như địa ngục không còn chỗ để chứa thêm tù hình sự và tù vượt biên hay cảnh hàng trăm con người lui cui trên bãi rác nắng đổ lửa, phơi lưng dưới trời, gục mặt trên đất để bươi móc những tấm ny lông dơ bẩn, hôi hám là những hình ảnh nằm ngoài sức tưởng tượng của những người sống trong thế giới văn minh. Miếng ăn, cái mặc, mái nhà trú thân và tờ hộ khẩu ám ảnh người dân mỗi ngày. Đấy chính là nỗi bi thảm của kiếp người sống trong thiên đường Cộng sản, không có tự do, và không có cả quyền làm người.
Điều đáng nói ở đây là nhân vật được tạo dựng trong bối cảnh xã hội chủ nghĩa là những con người không có nhân tính, và man dã như loài thú hoang. Trở nên ác độc hay có tâm địa lừa lọc không phải lỗi nơi họ. Chính tờ hộ khẩu, phiếu mua nhu yếu phẩm, chính sách đẩy dân đi vùng kinh tế mới, đã đẩy họ bước qua ranh giới của thiện tâm để bước vào cái ác tâm. Ác như câu chuyện người cha què quặt nắn cẳng chân đứa con cho vắt lên cổ từ khi còn sơ sinh để thằng bé thành tật nguyền và trở nên một món hàng đắt giá cho ăn mày mướn mỗi ngày với giá cao. Ác như người ta đập đầu con chó đói chết thảm thương chỉ vì nó giành giựt tấm nilông dính phân với con người. Khi con người được chủ nghĩa CS giải phóng thì con người và con chó cùng tranh nhau một miếng ăn để sinh tồn.
Trong 2 trang cuối của tập hồi ký Giữa Đêm Trường, NTL viết :
“Phải chăng tôi là một anh già hay gây gổ và lắm điều? Thật ra tôi không hẳn như vậy. Có gì đó tôi mới ra lời, nếu không tôi làm thinh cho yên. Tôi muốn yên vì tôi lười, đơn giản thế thôi. Vậy mà có những chuyện chẳng đặng đừng, muốn yên mà yên không được.
Mới ngày hôm qua đây thôi tôi lái chiếc Velo Solex của tôi trên đường đông, có một chị trông cũng bảnh lắm lái xe Dream. Lúc qua mặt tôi chị nhổ một bãi nước bọt. Bãi nước bọt bay thẳng vào mặt tôi dính nhằng nhằng. Tôi lộn tiết, nhả hết ga đuổi theo, cũng may gặp đèn đỏ ở đầu đường, tất cả xe cộ phải dừng lại. Tôi đuổi kịp chị ta. Tôi nói một câu rất là có văn hoá: "Này chị coi, bận sau đi xe trên đường không nên nhổ nước bọt bừa bãi như thế., vừa mất vệ sinh vừa không lịch sự."
Chị ta nhìn thẳng tôi, lầu bầu câu gì đó trong miệng, tôi tưởng sẽ nhận được lời xin lỗi, nhưng không, chị khạc thêm một câu khác vào mặt tôi:"Biết là mất vệ sinh sao không chùi đi, lại còn lo bắt lỗi, muốn bắt đền hả, rõ là lắm điều."
Tôi sững sờ chưa kịp có phản ứng gì thì đèn bật xanh, xe cộ nối đuôi nhau chạy mất. Tôi dạt vào trong lề, đứng chùi bãi nước bọt trên mặt. Tôi đã không kịp nổi nóng, như đã mất nhiều dịp nổi nóng, mọi chuyện xảy ra nhanh quá.
Hồi đầu giải phóng tôi từng bị anh cán bộ cưỡi xe đạp chẹt tôi, ngã văng cả kính trắng còn mắng cho một trận vì không chịu nghe tiếng ếp ếp của anh. Sau này dắt xe qua đường suýt nữa bị một ông trẻ mà làm lớn lái ôtô con xồ đến cán phải, còn bị chửi là thằng già chán sống. Đại khái là những việc như thế, tôi chẳng biết làm sao. Tôi muốn lắm điều nhưng mà không thể lắm điều được, tốt hơn hết là làm thinh.
Tôi dừng thiên hồi ký ở đây nhưng tôi chưa gác bút”.
Tôi dừng thiên hồi ký ở đây nhưng tôi chưa gác bút. Đó là câu kết của ông trong tập hồi ký ông viết xong vào tháng 12 năm 1999. Chắc chắn chúng ta sẽ còn được đọc thêm những tác phẩm của nhà văn NTL từ trong nước gửi ra vì ông nhất định không làm thinh nữa. Ông đã vướng vào nghiệp dĩ văn chương và đang tiếp tục công việc của mình trong ý thức trách nhiệm là không bẻ cong ngòi bút trước bất cứ một thế lực nào. Xin được mượn lời ông nói với bạn sau khi trải qua một cơn bạo bịnh để kết thúc bài viết nơi đây.
“Tôi phải sống, tôi từng tự chúc cho tôi năm Mậu Dần được sống lâu trăm tuổi để làm nốt những gì còn dở dang hay chưa làm được. Khi tôi chết tôi được nhắm mắt, không trừng mắt nhìn cõi hư vô như người bệnh mới qua đời nằm bên cạnh giường bệnh tôi. Tôi sẽ ra khỏi đây để về căn gác bút, ngồi vào bàn viết, làm công việc thâu đêm suốt sán như thuở nào. Bạn hãy nắm bàn tay tôi đi, những ngón tay này còn cầm nổi cây bút mà. Đề tài cho nhà văn khai thác thì mênh mông vô tận. Quanh tôi có bạn bè bẳng hữu kia mà...Xin cho tôi cám ơn đời...”.
Bây giờ vẫn còn là mùa xuân năm Tân Tỵ 2001. Xin cầu chúc cho nhà văn Nguyễn Thụy Long đạt được ước nguyện, có đủ sức khỏe và nghị lực để tiếp tục cầm bút vì quanh ông, ở quê nhà hiện nay, vẫn còn nhiều điều cần ghi lại.
TÂM AN
(Australia)