Chủ Nhật, ngày 5 tháng Chín, năm 2010
 

Tủ sách
Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653 -
Falls Church, VA 22044

email:
info@tiengquehuong.com

Điểm Sách
TIẾNG QUÊ HƯƠNG

 
Biên Khảo
Chính Trị
Hồi Ký
Nghệ Thuật
Thơ
Tiểu Thuyết
Tôn Giáo
Văn Học
 


 

Tủ sách
Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653 -
Falls Church, VA 22044

email:
info@tiengquehuong.com


  • Hồi ký của một thằng hèn
  • TÁC GIẢ VŨ TRỤ KHÔNG CÙNG - NGƯỜI CỦA TẤM LÒNG
  • Đọc sách: NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM chính luận của NGUYỄN THANH GIANG
  • NGUYỄN THANH GIANG với NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
  • Về tác phẩm GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II - VĨ NHÂN THỜI ĐẠI của TRẦN PHONG VŨ
  • TRẮNG TRÊN ĐEN của Ruben David Gonzalez-Gallego CHUYỆN CŨ, CHUYỆN MỚI
  • TÂM SỰ NƯỚC NON: AI GIẾT HỒ CHÍ MINH? của MINH VÕ
  • Về tập tiểu luận TÂM SỰ NƯỚC NON: AI GIẾT HỒ CHÍ MINH? của MINH VÕ
  • VIẾT Ở RỪNG PHONG - ký sự của HOÀNG HẢI THỦY
  • Đọc SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN -- ký sự của HOÀNG HẢI THỦY
  • VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM CHÂN TRỜI TÍM
  • Đọc sách của tác giả Pierre Darcourt -- Dương Hiếu Nghĩa dịch
  • Giới Thiệu Sách Mới: VN, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
  • Đọc sách: VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN, ÂM VANG MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG KHÓI LỬA
  • Điểm sách “SAU BỨC MÀN ĐỎ” của HOÀNG DUNG
  • Nghi vấn "Tại Sao" và lời giải qua tác phẩm của Hoàng Dung
  • Về tác phẩm ĐỖ LỆNH DŨNG của LÊ THIỆP
  • VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC TÁC PHẨM ĐỖ LỆNH DŨNG của LÊ THIỆP
  • NHỮNG NÉT ĐẸP TRONG TRUYỆN ĐỖ LỆNH DŨNG CỦA LÊ THIỆP
  • Đọc ĐỖ LỆNH DŨNG truyện ký của LÊ THIỆP
  • “THƯ GỬI VÀO KHÔNG” tâm bút của MAI NGUYÊN
  • Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật
  • ĐỌC "ĐI TÌM NHÂN VẬT" tiểu thuyết TẠ DUY ANH
  • BỨC CHÂN DUNG VIỆT NAM qua tác phẩm "ĐI TÌM NHÂN VẬT" của Tạ Duy Anh
  • SÁCH MỚI: QUÊ HƯƠNG NGÀY TRỞ LẠI của Lê Mỹ Hân
  • Đọc ký sự QUÊ HƯƠNG NGÀY TRỞ LẠI của Lê Mỹ Hân
  • VAI TRÒ TRUYỀN THÔNG VÀ TRÁCH NHIỆM BỨNG GỐC “THẦN TƯỢNG” HỒ CHÍ MINH
  • Đọc và đánh giá tác phẩm HỒ CHÍ MINH, NHẬN ĐỊNH TỔNG HỢP của tác giả Minh Võ
  • Vài nhận định về TRONG ÁNH LỬA THÙ của UYÊN THAO
  • Đọc THƠ MAI TRUNG TĨNH
  • NGÃ TƯ HOÀNG HÔN của VĂN QUANG
  • Vài nét về NGÃ TƯ HOÀNG HÔN và tác giả VĂN QUANG
  • Đọc TẦN TRUNG TÁC, thơ MA XUÂN ĐẠO - BÀI HÁT BUÔNG PHAO
  • Về MA XUÂN ĐẠO và thi phẩm TẦN TRUNG TÁC
  • ĐỌC SÁCH: CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO của LÊ THIỆP
  • Đọc CHÂN ƯỚT CHÂN RÁO của Lê-Thiệp những nỗi nhớ không rời...
  • “CHÂN ƯỚT, CHÂN RÁO” - LÊ THIỆP, MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
  • VIẾT VỀ MỘT NGƯỜI MANG TÊN NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
  • Đọc thi phẩm HOA PHƯỢNG của Nguyễn Thị Hoài Thanh TỪ THƠ TỚI NHỮNG MẢNH ĐỜI…
  • NGUYỄN THỊ HOÀI THANH người tiếp nối truyền thống yêu thơ của dân tộc Việt
  • Về tác phẩm GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II VĨ NHÂN THỜI ĐẠI của TRẦN PHONG VŨ
  • Đọc tuyển tập TỬ TỘI của CHÓE Nguyễn Hải Chí
  • Choé và tuyển tập TỬ TỘI -- NGƯỜI LÀM VƯỜN ĐỘC THOẠI
  • BÙI NGỌC TẤN qua tập hồi ký “VIẾT VỀ BÈ BẠN” - NGƯỜI CỦA TẤM LÒNG
  • ĐỌC TÁC PHẨM "VIẾT VỀ BÈ BẠN" của BÙI NGỌC TẤN
  • Đọc thi phẩm HOA PHƯỢNG - NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
  • GIỮA ĐÊM TRƯỜNG - tiếng kêu trầm thống của người “Gác Bút”
  • ĐỌC SÁCH NGUYỄN THỤY LONG: GIỮA ĐÊM TRƯỜNG & THÂN PHẬN MA TRƠI
  • THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ
  • THẾ GIỚI TÌNH YÊU trong THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ
  • THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ
    GIANG HỮU TUYÊN

    Thi sĩ và cũng là “tu sĩ” Phạm Thiên Thư trong những ngày đi theo chân Hoàng Thị Ngọ có một đoạn thơ tình như sau:

    “Em tan trường về
    Đường mưa nho nhỏ
    Chim non giấu mỏ
    Dưới cội hoa vàng
    ...
    Mười năm rồi Ngọ
    Tình cờ qua đây
    Cây xưa vẫn gầy
    Phơi nghiêng dáng đỏ

    Áo em ngày nọ
    Phai  nhạt mấy màu”

    ...


    Cùng là thơ tình, nhưng thơ tình của Phạm Thiên Thư và Tô Thùy Yên đã vô cùng khác biệt với thơ tình  Vương  Đức Lệ.

    Vương Đức Lệ dứt khoát không có cái vụ “mười năm theo Ngọ”. 
    ...


    “Đất lệch, trời nghiêng bỗng nhớ về
    Tình Em lãng đãng nhập hồn mê
    Bao giờ sông biếc khô dòng lệ
    Để tiếng thơ sầu bớt ủ ê?”
    (Nhập Hồn Mê, trang 35)

    Bao giờ sông biếc khô dòng lệ?  Thơ tình hay có thể nói một cách khác, những mối tình thơ Vương Đức Lệ có lẽ chỉ là cái cớ, cái cơ duyên để từ đấy hoặc đẩy lên một cung bậc, hoặc phóng mình chìm xuống một thang âm là cả một vực sâu lìa cách, là cả muôn trượng cao xa thẳm của một tâm hồn bạt ngàn, bão lửa, phong ba...

    “Em đi rồi hồn tôi dông bão nổi
    Cuối Hạ buồn, trời đất đã sang Thu
    ....
    Xin tặng Em một đóa hồng đỏ thắm
    Mai xa rồi còn biết gặp  nhau không?
    Ôm một nỗi nhớ trùng dương biển mặn
    Tình xanh xưa nghe muối xát trong lòng.

    Bài ‘Trương Chi’ đêm nào tôi đã hát
    Nghe tình trần còn chút vọng âm xa
    Khúc ‘Biệt Ly’ lênh đênh từ nốt nhạc
    Em đi rồi, hồn bỗng nổi phong ba!”
    (Dông Bão Hồn Tôi, trang 34)

    Thơ tình  Vương Đức Lệ có lẽ chỉ là khối tình tưởng như rất nhẹ

    “Còn có đêm nào phơi ánh nguyệt
    Tựa hồn nhau đợi giấc chiêm bao?
    Chiều nay chợt có cơn buồn lạ
    Trời đất vô can cũng nhuốm sầu!”
    (Trời Đất Vô Can, trang 35)

    Nhưng đã khiến “trời đất vô  can cũng nhuốm sầu.”

    Tôi có lẽ là cũng rất “vô can” với những mối tình thơ của Vương  Đức Lệ.  Và tôi có lẽ cũng đã rất “nhuốm sầu” khi đọc:

    “Nắng xế, chiều nghiêng, bóng đổ dài
    Rừng thu hiu hắt lá thu phai
    Chân mòn lối cũ, đâu người cũ
    Ta một phương trời thương nhớ ai?
    (Cuối Thu)

    Hình như một giòng thơ là mỗi một giòng lệ chậm lăn trên má...

    “Ta ngồi vớt mảnh hồn tan
    Sông quê còn đỏ màu loang máu đào
    Em ngồi rửa bát cầu ao
    Tóc mây còn phả hương ngâu tưởng chừng.”
    (Sinh Tiền, trang 51)

    Người đọc Vương Đức Lệ gần như không tìm thấy nơi thơ ông một sự xốc nổi quá đáng, một cách tân xa lạ, kiêu kỳ hay sự bùng nổ, phá vỡ, xóa tan ngôn ngữ, hình tượng nào.

    “Tóc Em nghìn sợi sắc không
    Xuân xanh gió biếc, Hạ bồng bềnh mây
    Trời chiều mỏng lá Thu bay
    Chia anh từng sợi cuối ngày tuyết Đông”
    (Sợi Tóc, trang 52)

    Mà gần như trái lại, bốn mùa thi ca, bốn mùa thơ Vương Đức Lệ  chan chứa những cảm xúc chín muồi, sâu lắng, mênh mang của tài thơ chìm đắm, say sưa với muôn sắc màu, góc cạnh của cuộc sống.

    “Cây nghiêng nắng xế lưng đồi
    Vàng thu lá muộn chiều phơi bóng tà...”
    (Bóng Xế, trang 44)

    Hình ảnh trong thơ:  có gì đâu. Chỉ là những hình ảnh cũ, thường nhật.  Chỉ là cây nghiêng, chỉ là bóng xế, lưng đồi.  Chỉ là ngày thu, chiếc lá rơi muộn trong buổi chiều.  Vậy mà chỉ với hai chữ:  “chiều phơi,” toàn bộ cảnh tượng trở nên có linh hồn.  Thơ tràn đầy sinh lực.  Hình ảnh cũ trở nên mới.  Chiều mà làm sao phơi được bóng.  Hay bóng mà làm sao phơi được chiều.  Vậy mà chỉ cần trao cho danh từ trừu tượng và động từ cụ thể hai nhiệm vụ bất ngờ, họ Vương đã dựng lên sừng sững một “bóng xế” tráng lệ, lấp lánh giữa thi ca.

    “Về qua thăm chiến trường xưa
    Oan khiên chứng giám, hận thù dững dưng
    Sông xưa, nước cũ tanh lòng
    Rừng xơ xác lá bụi hồng bay theo.
    Xe qua dừng lại xóm nghèo
    Dấu chân ta sững, bóng chiều lạnh tê!
    Mưa xa lớp lớp mưa về
    Máu đào còn nhỏ cõi mê thuở nào
    Người chân mây, kẻ giang đầu
    Cùng nhau chung một giấc sầu chia hai.
    Lối về từng hạt mưa bay
    Xe qua phố thị còn ngây mắt nhìn”
    (Về qua Sông Bé, trang 123)

    Thơ Vương Đức Lệ không phẫn nộ, không vồ vập, không loạn cuồng, không gào thét, không rên đau mà là những trăn trở của hình sông, vách núi, của những thầm lặng, tưởng tiếc, nhớ nhung giữa hữu hạn và vô cùng.

    “Ngày hữu hạn cứ dần dần ngắn lại
    Đêm vô cùng thăm thẳm cứ dài thêm!”
    (Hữu Hạn Và Vô Cùng, trang 32)

    “Ta tiêu gần hết quỹ thời gian
    Mộng mới chưa xanh, mộng cũ tàn
    Sầu chín đong đưa chưa kịp hái
    Ngậm ngùi ngồi chuốc mảnh hồn tan”
    (Cạn Quỹ Thời Gian, trang 25)

    Ngậm ngùi chuốc mảnh hồn tan.  Có thể  ví thơ Vương Đức Lệ là những làn khói mỏng vươn lên giữa khung trời hiu hắt.  Nhưng đối với tôi, những làn khói mỏng vươn lên giữa khung trời hiu hắt kia chính là sự báo hiệu nơi có sự sống của con người, nơi có nhịp đập của trái tim, nơi có hữu ngạn, tả ngạn và luôn cả trầm tích của giòng  sông nhân sinh hùng vĩ.

    Nổi bật trong 220 trang thơ Vương Đức Lệ là những bài thất ngôn tứ tuyệt.  Những bài bảy chữ, bốn câu đã làm rắn rỏi lại, quánh đặc lại không gian nhàn nhạt u buồn, dạt dào bất tận như gió đuổi trên ngàn lau.

    “Một chút tro tàn vừa đủ nhớ
    Một bình sắc sắc đựng không không
    Mấy tầng tháp cổ sau chùa đó
    Ai nhớ ai thơm khói vẽ vòng?”
    (Bài Ở Tháp Tro Chùa Vĩnh Nghiêm, trang 129)

    “Vương quốc ta nghìn vẻ tốt tươi
    Em là hoàng hậu chẳng về ngôi!
    Cố cung xa quá, hành cung lạnh
    Một mảnh trăng non, ngủ giữa trời !”
    (Vương Quốc Hoang Vu, trang 133)

    Tác giả “Chuyến Tàu Trên Sông Hồng”, nhà văn Mai Thảo, một ngòi bút cột trụ của nhóm “Sáng Tạo” vào năm 1989 đã xuất bản tập thơ có nhan đề là “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền” (nhà xuất bản Văn Khoa, Califorinia).  Nếu ở bộ môn văn, Mai Thảo đã làm say mê người đọc ông bằng lối tùy bút diễm lệ, thì ở bộ môn thơ, Mai Thảo đã khiến người ta kinh ngạc không ít với những bài thất ngôn tứ tuyệt.

    “Tả ngạn đời ta một nhánh hoa
    Bên kia hữu ngạn vẫn thơm và
    Hương bay thần chú qua lìa đứt
    Mỗi buổi bên này mỗi lệ sa.”
    (Tả Ngạn)

    Thất ngôn tứ tuyệt của Mai Thảo cô đọng đến chừng như không còn cô đọng được nữa.  Ngữ pháp và tứ thơ không đứng dừng lại ở mỗi câu tứ của bài thơ, mà như còn luôn rộng mở, chập chùng đi hoài, đi mãi...  Ngõ ngách nào, triền dốc nào cũng bát ngát, cũng điệp trùng dư vị.

    Còn thất ngôn tứ tuyệt của Vương Đức Lệ thì sao?

    “Lã chã canh khua giọt vắn dài
    Thương trời đất cũ nhớ riêng ai
    Sao sa mấy cánh ngoài vô tận
    Thao thức đêm trường mộng đã phai.
    (Canh Khuya, trang 21)

    “Cuốn sách mở, từng trang chữ cổ
    Người ngàn xưa chép sử ngàn sau
    Lần theo tử ngữ tìm chân lý
    Chỉ thấy mây mù đáy vực sâu!”
    (Vực Sâu )

    “Hệ mặt trời mai tắt lửa rồi
    Hành tinh trái đất sẽ im hơi
    Quy trình, sinh, diệt ai vờn vẽ
    Bóng tối trùm lên chút phận người.
    (Tắt Lửa, trang 133)

    Sau câu tứ của Vương Đức Lệ, không hẳn chỉ là dư vị mà còn là ám ảnh xót đau, trăn trở giữa hai bờ khổ đau và hạnh phúc.

    Hình như tứ tuyệt của Mai Thảo, thơ của Mai Thảo là thơ đến từ khối óc. Hình như tứ tuyệt của Vương Đức Lệ, thơ của Vương Đức Lệ là thơ đến từ trái tim.  Tứ tuyệt Mai Thảo như là một cô gái thị thành ngổ ngáo, điểm xuyết thêm một chút phấn son lãng mạn.  Tứ tuyệt Vương Đức Lệ như là một thôn nữ dịu dàng, e ấp, mặn mà ẩn hiện một nụ cười duyên dáng.  Tứ tuyệt Mai Thảo có thể như là một thước phim màu được gạn lọc, được dàn dựng công phu.  Tứ tuyệt Vương Đức Lệ là một khúc phim tài liệu đen trắng, chân phương.

    Hai tài thơ, hai phong cách.  Phong cách nào cũng đáng yêu.  Phong cách nào cũng vượt.

    Vậy mà trong lần nói chuyện về thơ với cá nhân tôi hôm đầu Xuân Quý Mùi, Vương Đức Lệ chỉ khiêm nhường tâm sự, ông “chỉ là một người làm thơ và chỉ thích làm thơ, kể cả thơ vè (?) để ghi lại cảm xúc của mình trong mọi tình huống và chắt chiu như kỷ niệm trong đời.”

    Cũng trong lần nói chuyện đó, ông đã nhắc nhở một bài thơ mà ông tự gọi “còn hôi mùi sữa” được sáng tác vào năm 1952 tại Hà Nội.  Đó là một bài bảy chữ, nhưng sau đó trở thành thất ngôn tứ tuyệt có nhan đề là “Tường Đông”:

    “Qua cửa nhà Em chiều lại chiều
    Tường đông ong bướm cũng về theo
    Nhà Em kín cổng cao tường quá
    Anh muốn làm dây hoa tím leo”

    Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, kể từ năm 1952, đã biết bao thăng trầm, đổi thay, hưng phế, vậy mà Vương Đức Lệ đã vẫn chỉ thủy chung “chắt chiu” mãi với mối tình thơ dại...

    Thơ vì thế còn là kỷ niệm.  Kỷ niệm có khi rất đẹp.  Có khi cũng rất buồn.  Cái đẹp cái buồn trong thơ Vương Đức Lệ không hẳn chỉ là cái đẹp và cái buồn “ý tại ngôn ngoại” của Hồ Dzếnh:

    “Tô Châu lớp lớp phù kiều
    Trăng đêm Dương Tử, mây chiều  Giang Nam”

    Mà ở Vương Đức Lệ, với tôi, cái đẹp và cái buồn đó đã trùm lấp hết tất cả chân trời, góc núi, khe sông, lòng biển luôn cả nhân gian khiến cho “cát trong sỏi đá” cũng đã phải “giật mình ngẩn ngơ.”

    “Hồn về tám nẻo u minh
    Cát trong sỏi đá giật mình ngẩn ngơ
    Mai về một bóng ta ư?
    Nối kim cổ lại, lạnh bờ nhân gian.”
    (Cõi Sầu Nhân Gian, trang 216)

    Nối kim cổ lại, lạnh bờ nhân gian.  Vâng, tôi đã dường như lờ mờ đọc thấy được trong giòng thơ Vương Đức Lệ ánh mắt rưng rưng của người thi sĩ có dáng dong dỏng cao ở cuối một con đường cô tịch, một mình một bóng lặng lẻ âm thầm đi nối lại cổ kim.  Không phải bờ nhân gian đang lành lạnh, mà chính lòng tôi cùng những người đang đọc thơ ông, cũng đang lạnh buốt...

    GIANG HỮU TUYÊN

    Posted on 15 May 2008


     Contact Us | © 2008 - 2010 by   tiengquehuong.com