GIANG HỮU TUYÊN
Thi sĩ và cũng là “tu sĩ” Phạm Thiên Thư trong những ngày đi theo chân Hoàng Thị Ngọ có một đoạn thơ tình như sau:
“Em tan trường về Đường mưa nho nhỏ Chim non giấu mỏ Dưới cội hoa vàng ... Mười năm rồi Ngọ Tình cờ qua đây Cây xưa vẫn gầy Phơi nghiêng dáng đỏ Áo em ngày nọ Phai nhạt mấy màu” ...
Cùng là thơ tình, nhưng thơ tình của Phạm Thiên Thư và Tô Thùy Yên đã vô cùng khác biệt với thơ tình Vương Đức Lệ.
Vương Đức Lệ dứt khoát không có cái vụ “mười năm theo Ngọ”.
...
“Đất lệch, trời nghiêng bỗng nhớ về Tình Em lãng đãng nhập hồn mê Bao giờ sông biếc khô dòng lệ Để tiếng thơ sầu bớt ủ ê?” (Nhập Hồn Mê, trang 35) Bao giờ sông biếc khô dòng lệ? Thơ tình hay có thể nói một cách khác, những mối tình thơ Vương Đức Lệ có lẽ chỉ là cái cớ, cái cơ duyên để từ đấy hoặc đẩy lên một cung bậc, hoặc phóng mình chìm xuống một thang âm là cả một vực sâu lìa cách, là cả muôn trượng cao xa thẳm của một tâm hồn bạt ngàn, bão lửa, phong ba...
“Em đi rồi hồn tôi dông bão nổi Cuối Hạ buồn, trời đất đã sang Thu .... Xin tặng Em một đóa hồng đỏ thắm Mai xa rồi còn biết gặp nhau không? Ôm một nỗi nhớ trùng dương biển mặn Tình xanh xưa nghe muối xát trong lòng. Bài ‘Trương Chi’ đêm nào tôi đã hát Nghe tình trần còn chút vọng âm xa Khúc ‘Biệt Ly’ lênh đênh từ nốt nhạc Em đi rồi, hồn bỗng nổi phong ba!” (Dông Bão Hồn Tôi, trang 34)
Thơ tình Vương Đức Lệ có lẽ chỉ là khối tình tưởng như rất nhẹ
“Còn có đêm nào phơi ánh nguyệt Tựa hồn nhau đợi giấc chiêm bao? Chiều nay chợt có cơn buồn lạ Trời đất vô can cũng nhuốm sầu!” (Trời Đất Vô Can, trang 35)
Nhưng đã khiến “trời đất vô can cũng nhuốm sầu.”
Tôi có lẽ là cũng rất “vô can” với những mối tình thơ của Vương Đức Lệ. Và tôi có lẽ cũng đã rất “nhuốm sầu” khi đọc:
“Nắng xế, chiều nghiêng, bóng đổ dài Rừng thu hiu hắt lá thu phai Chân mòn lối cũ, đâu người cũ Ta một phương trời thương nhớ ai? (Cuối Thu)
Hình như một giòng thơ là mỗi một giòng lệ chậm lăn trên má...
“Ta ngồi vớt mảnh hồn tan Sông quê còn đỏ màu loang máu đào Em ngồi rửa bát cầu ao Tóc mây còn phả hương ngâu tưởng chừng.” (Sinh Tiền, trang 51)
Người đọc Vương Đức Lệ gần như không tìm thấy nơi thơ ông một sự xốc nổi quá đáng, một cách tân xa lạ, kiêu kỳ hay sự bùng nổ, phá vỡ, xóa tan ngôn ngữ, hình tượng nào.
“Tóc Em nghìn sợi sắc không Xuân xanh gió biếc, Hạ bồng bềnh mây Trời chiều mỏng lá Thu bay Chia anh từng sợi cuối ngày tuyết Đông” (Sợi Tóc, trang 52)
Mà gần như trái lại, bốn mùa thi ca, bốn mùa thơ Vương Đức Lệ chan chứa những cảm xúc chín muồi, sâu lắng, mênh mang của tài thơ chìm đắm, say sưa với muôn sắc màu, góc cạnh của cuộc sống.
“Cây nghiêng nắng xế lưng đồi Vàng thu lá muộn chiều phơi bóng tà...” (Bóng Xế, trang 44)
Hình ảnh trong thơ: có gì đâu. Chỉ là những hình ảnh cũ, thường nhật. Chỉ là cây nghiêng, chỉ là bóng xế, lưng đồi. Chỉ là ngày thu, chiếc lá rơi muộn trong buổi chiều. Vậy mà chỉ với hai chữ: “chiều phơi,” toàn bộ cảnh tượng trở nên có linh hồn. Thơ tràn đầy sinh lực. Hình ảnh cũ trở nên mới. Chiều mà làm sao phơi được bóng. Hay bóng mà làm sao phơi được chiều. Vậy mà chỉ cần trao cho danh từ trừu tượng và động từ cụ thể hai nhiệm vụ bất ngờ, họ Vương đã dựng lên sừng sững một “bóng xế” tráng lệ, lấp lánh giữa thi ca.
“Về qua thăm chiến trường xưa Oan khiên chứng giám, hận thù dững dưng Sông xưa, nước cũ tanh lòng Rừng xơ xác lá bụi hồng bay theo. Xe qua dừng lại xóm nghèo Dấu chân ta sững, bóng chiều lạnh tê! Mưa xa lớp lớp mưa về Máu đào còn nhỏ cõi mê thuở nào Người chân mây, kẻ giang đầu Cùng nhau chung một giấc sầu chia hai. Lối về từng hạt mưa bay Xe qua phố thị còn ngây mắt nhìn” (Về qua Sông Bé, trang 123)
Thơ Vương Đức Lệ không phẫn nộ, không vồ vập, không loạn cuồng, không gào thét, không rên đau mà là những trăn trở của hình sông, vách núi, của những thầm lặng, tưởng tiếc, nhớ nhung giữa hữu hạn và vô cùng.
“Ngày hữu hạn cứ dần dần ngắn lại Đêm vô cùng thăm thẳm cứ dài thêm!” (Hữu Hạn Và Vô Cùng, trang 32)
“Ta tiêu gần hết quỹ thời gian Mộng mới chưa xanh, mộng cũ tàn Sầu chín đong đưa chưa kịp hái Ngậm ngùi ngồi chuốc mảnh hồn tan” (Cạn Quỹ Thời Gian, trang 25)
Ngậm ngùi chuốc mảnh hồn tan. Có thể ví thơ Vương Đức Lệ là những làn khói mỏng vươn lên giữa khung trời hiu hắt. Nhưng đối với tôi, những làn khói mỏng vươn lên giữa khung trời hiu hắt kia chính là sự báo hiệu nơi có sự sống của con người, nơi có nhịp đập của trái tim, nơi có hữu ngạn, tả ngạn và luôn cả trầm tích của giòng sông nhân sinh hùng vĩ.
Nổi bật trong 220 trang thơ Vương Đức Lệ là những bài thất ngôn tứ tuyệt. Những bài bảy chữ, bốn câu đã làm rắn rỏi lại, quánh đặc lại không gian nhàn nhạt u buồn, dạt dào bất tận như gió đuổi trên ngàn lau.
“Một chút tro tàn vừa đủ nhớ Một bình sắc sắc đựng không không Mấy tầng tháp cổ sau chùa đó Ai nhớ ai thơm khói vẽ vòng?” (Bài Ở Tháp Tro Chùa Vĩnh Nghiêm, trang 129)
“Vương quốc ta nghìn vẻ tốt tươi Em là hoàng hậu chẳng về ngôi! Cố cung xa quá, hành cung lạnh Một mảnh trăng non, ngủ giữa trời !” (Vương Quốc Hoang Vu, trang 133)
Tác giả “Chuyến Tàu Trên Sông Hồng”, nhà văn Mai Thảo, một ngòi bút cột trụ của nhóm “Sáng Tạo” vào năm 1989 đã xuất bản tập thơ có nhan đề là “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền” (nhà xuất bản Văn Khoa, Califorinia). Nếu ở bộ môn văn, Mai Thảo đã làm say mê người đọc ông bằng lối tùy bút diễm lệ, thì ở bộ môn thơ, Mai Thảo đã khiến người ta kinh ngạc không ít với những bài thất ngôn tứ tuyệt.
“Tả ngạn đời ta một nhánh hoa Bên kia hữu ngạn vẫn thơm và Hương bay thần chú qua lìa đứt Mỗi buổi bên này mỗi lệ sa.” (Tả Ngạn)
Thất ngôn tứ tuyệt của Mai Thảo cô đọng đến chừng như không còn cô đọng được nữa. Ngữ pháp và tứ thơ không đứng dừng lại ở mỗi câu tứ của bài thơ, mà như còn luôn rộng mở, chập chùng đi hoài, đi mãi... Ngõ ngách nào, triền dốc nào cũng bát ngát, cũng điệp trùng dư vị.
Còn thất ngôn tứ tuyệt của Vương Đức Lệ thì sao?
“Lã chã canh khua giọt vắn dài Thương trời đất cũ nhớ riêng ai Sao sa mấy cánh ngoài vô tận Thao thức đêm trường mộng đã phai. (Canh Khuya, trang 21)
“Cuốn sách mở, từng trang chữ cổ Người ngàn xưa chép sử ngàn sau Lần theo tử ngữ tìm chân lý Chỉ thấy mây mù đáy vực sâu!” (Vực Sâu )
“Hệ mặt trời mai tắt lửa rồi Hành tinh trái đất sẽ im hơi Quy trình, sinh, diệt ai vờn vẽ Bóng tối trùm lên chút phận người. (Tắt Lửa, trang 133)
Sau câu tứ của Vương Đức Lệ, không hẳn chỉ là dư vị mà còn là ám ảnh xót đau, trăn trở giữa hai bờ khổ đau và hạnh phúc.
Hình như tứ tuyệt của Mai Thảo, thơ của Mai Thảo là thơ đến từ khối óc. Hình như tứ tuyệt của Vương Đức Lệ, thơ của Vương Đức Lệ là thơ đến từ trái tim. Tứ tuyệt Mai Thảo như là một cô gái thị thành ngổ ngáo, điểm xuyết thêm một chút phấn son lãng mạn. Tứ tuyệt Vương Đức Lệ như là một thôn nữ dịu dàng, e ấp, mặn mà ẩn hiện một nụ cười duyên dáng. Tứ tuyệt Mai Thảo có thể như là một thước phim màu được gạn lọc, được dàn dựng công phu. Tứ tuyệt Vương Đức Lệ là một khúc phim tài liệu đen trắng, chân phương.
Hai tài thơ, hai phong cách. Phong cách nào cũng đáng yêu. Phong cách nào cũng vượt.
Vậy mà trong lần nói chuyện về thơ với cá nhân tôi hôm đầu Xuân Quý Mùi, Vương Đức Lệ chỉ khiêm nhường tâm sự, ông “chỉ là một người làm thơ và chỉ thích làm thơ, kể cả thơ vè (?) để ghi lại cảm xúc của mình trong mọi tình huống và chắt chiu như kỷ niệm trong đời.”
Cũng trong lần nói chuyện đó, ông đã nhắc nhở một bài thơ mà ông tự gọi “còn hôi mùi sữa” được sáng tác vào năm 1952 tại Hà Nội. Đó là một bài bảy chữ, nhưng sau đó trở thành thất ngôn tứ tuyệt có nhan đề là “Tường Đông”:
“Qua cửa nhà Em chiều lại chiều Tường đông ong bướm cũng về theo Nhà Em kín cổng cao tường quá Anh muốn làm dây hoa tím leo” Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, kể từ năm 1952, đã biết bao thăng trầm, đổi thay, hưng phế, vậy mà Vương Đức Lệ đã vẫn chỉ thủy chung “chắt chiu” mãi với mối tình thơ dại...
Thơ vì thế còn là kỷ niệm. Kỷ niệm có khi rất đẹp. Có khi cũng rất buồn. Cái đẹp cái buồn trong thơ Vương Đức Lệ không hẳn chỉ là cái đẹp và cái buồn “ý tại ngôn ngoại” của Hồ Dzếnh:
“Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam”
Mà ở Vương Đức Lệ, với tôi, cái đẹp và cái buồn đó đã trùm lấp hết tất cả chân trời, góc núi, khe sông, lòng biển luôn cả nhân gian khiến cho “cát trong sỏi đá” cũng đã phải “giật mình ngẩn ngơ.”
“Hồn về tám nẻo u minh Cát trong sỏi đá giật mình ngẩn ngơ Mai về một bóng ta ư? Nối kim cổ lại, lạnh bờ nhân gian.” (Cõi Sầu Nhân Gian, trang 216)
Nối kim cổ lại, lạnh bờ nhân gian. Vâng, tôi đã dường như lờ mờ đọc thấy được trong giòng thơ Vương Đức Lệ ánh mắt rưng rưng của người thi sĩ có dáng dong dỏng cao ở cuối một con đường cô tịch, một mình một bóng lặng lẻ âm thầm đi nối lại cổ kim. Không phải bờ nhân gian đang lành lạnh, mà chính lòng tôi cùng những người đang đọc thơ ông, cũng đang lạnh buốt...
GIANG HỮU TUYÊN