UYÊN THAO

Vương Đức Lệ là một nhà thơ đã liên tục góp mặt trên thi đàn gần trọn năm chục năm qua và đã xác định được một vị thế rõ rệt bằng nhiều tác phẩm giá trị của mình. Nhưng, chúng ta sẽ nhìn nhà thơ Vương Đức Lệ qua vóc dáng nào?
Trong câu chuyện hôm nay, tôi không nhắm trả lời câu hỏi đó mà chỉ xin hạn chế ở một khía cạnh nhỏ thuộc nội dung tác phẩm mới nhất của anh, thi phẩm THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ.
Suốt nhiều năm nay, mỗi khi nhắc tới thơ Vương Đức Lệ, tôi luôn nhớ mấy câu sau:
Đọc Thơ Tình một ni cô Lòng tôi bỗng ngẩn, bỗng ngơ mất rồi Mai đây chuyển kiếp luân hồi Cửa chùa tôi đứng đợi người xuất gia Bốn câu thơ luôn gợi nhắc cảm giác lơ lửng tuyệt vời của những tháng ngày xa thẳm, khi mà một cơn gió nhẹ sớm mai, một tia nắng nhạt buổi chiều không ngừng quấn quít với một ánh mắt, một nụ cười nào đó để thúc đẩy nhịp đập của trái tim trong nỗi hồi hộp đợi chờ.
Bằng chủ quan của mình, tôi vẫn nghĩ rằng mọi màu sắùc lý tưởng, mọi mưu cầu thực tiễn cũng như mọi tàn phá khốc liệt nhất của cuộc đời đều hoàn toàn bất lực nếu muốn theo đuổi ý đồ loại trừ cảm giác lơ lửng đó khỏi trái tim con người.
Nói một cách khác, những khoảnh khắc rung động bởi cảm giác yêu đương chính là những khoảnh khắc sống thực nhất, những khoảnh khắc hiện hữu cụ thể nhất.
Và, tôi đã đợi chờ được trở lại với những giây phút đó qua thi phẩm THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ.
Với tôi, tình yêu qua thơ Vương Đức Lệ đã được xác định là những cảm xúc bồi hồi, những mong ước đơn sơ, những băn khoăn nhẹ nhàng có thể tượng hình bằng hình ảnh một đôi chim ríu rít bên nhau.
Bước vào thế giới tình yêu của thơ Vương Đức Lệ, người đọc không gặp những quay cuồng trong si mê điên loạn, không gặp những cung điệu vút cao căng thẳng mà chỉ thấy tình yêu hiện hình như một loài chim quý bay giữa khoảng trời trong vắt hoặc như một làn gió nhẹ lùa hương thơm đồng nội bao la vào khắp các ngả đường.
Đó là ý nghĩ thường hiện đến với tôi mỗi khi nghĩ về thơ tình Vương Đức Lệ. Và khi đọc thơ anh, tôi cũng luôn nhớ lại mấy câu thơ sau của Trần Tuấn Kiệt, những câu thơ diễn tả tình yêu rất gần với thế giới tình yêu của Thơ Vương Đức Lệ:
Mai ta về sau núi Mà cất am tị trần Vẽ hình nàng trên gối Ngồi ngắm suốt mùa xuân Tình yêu không phải sự chiếm hữu mà phảng phất màu sắc của miếu đường. Người yêu tuy vẫn mang hình hài trần thế nhưng lại hiện ra với đường nét của người trong tranh và sống mãi tới cả kiếp sau cho ta chiêm ngưỡng.
Với những ý nghĩ sẵn có đó, tôi đã không tránh nổi sững sờ ngay khi nhìn vào bài thơ mở đầu của thi phẩm THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ:
Nửa người vùi dưới đất đen Bàn tay co quắp vươn lên với trời Hỏi đâu chiếc phận con người Ngàn thiên cổ lụy, tiếng đời nỉ non Đó là những ý nghĩ của nhà thơ trước một pho tượng bên bờ sông Potomac, những ý nghĩ đã mở ra thế giới thơ tình Vương Đức Lệ trong tác phẩm mới nhất của anh. Lập tức, cái thế giới tình yêu trong thơ Vương Đức Lệ từng có với tôi bỗng nhoà nhạt và chìm khuất hẳn sau bài thơ kế tiếp:
Hồn gửi quê nhà, xác ở đây Ngàn trùng xa cách mãi Đông, Tây Nỗi sầu kim, cổ ngoài vô tận Một sớm Thu sang lá rụng đầy Bức chân dung tình yêu trong thơ Vương Đức Lệ hoàn toàn thay đổi từ đường nét tới màu sắc:
Quê người ngàn dặm lênh đênh Dấu chân biệt xứ nỗi mình đa đoan Đông tàn, tuyết trắng chưa tan Giọt sầu hoá giọt cường toan giãi bày Chiều chưa phai nắng cuối ngày Chim bay về tổ, mơ đầy lối xưa Thầm nghe ai hát ầu ơ Xanh câu vọng cổ buồn ngơ ngẩn buồn Chắc chắn không bao giờ Vương Đức Lệ có thể rời xa cuộc sống thực của mỗi con người là tình yêu đôi lứa nhưng THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ hiển nhiên đã chìm giữa cơn thác lũ của thời thế để chuyển đạt những ưu tư nhọc nhằn về thân phận con người:
Đã mấy mươi lần một tháng Tư Hong bao kỷ niệm thiếu và dư Bao mùa lá chết vun thành đống Đốt lửa tìm ai? Ta đó ư? Cảm giác lơ lửng tuyệt vời của những giây phút hồi hộp đợi chờ nếu còn le lói xuất hiện vẫn không tránh khỏi bị che khuất bởi những băn khoăn, thắc mắc chỉ khơi lên cảm giác chua xót não lòng:
Thông điệp nào tôi đã gửi đi? Người ngồi bên máy lặng thinh nghe Phải chăng lời của tim khô héo Từ phía chân trời góc biển kia? Hoặc:
Trời Cali không chớp bể mưa nguồn Anh tự hỏi cớ sao buồn đến thế! Đó là những câu hỏi không cần được trả lời vì có thể thực tế đã trả lời và cũng có thể khó tìm nổi câu trả lời chính xác. Dường như trong từng giây phút, trong từng đổi thay của cuộc sống, người thơ chỉ luôn thấy mình bị vây hãm giữa những dằn vật, những vò xé xuất phát từ những cảnh ngộ không thể nào hiểu nổi:
Từng khuôn mặt thân, sơ Dần dà không hiện hữu ............... Ta như bóng vật vờ Phố quen chừng rất lạ Người quen đeo mặt nạ Ta tìm chẳng thấy ai Ta nhìn, không thấy nữa Trong ta và giữa đời Hoặc:
Ta vẫn làm dân xứ lạ Ngậm ngùi thân lại thương thân Ta thấy ta ngồi hoá đá Ngó quanh nào thấy mộ phần. Thế giới THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LEÄ không còn là thế giới của tuổi hai mươi, không còn là thế giới của những rung động đầu đời mà chìm ngập trong ly cách, oan khiên, chìm ngập trong mất mát, cô đơn, chìm ngập trong xót xa, thương nhớ …
Trong thế giới này có lẽ hết thẩy chúng ta đều cùng góp mặt và đều từng có những phút giây chia xẻ ít nhất một nỗi niềm tâm tư nào đó mà Vương Đức Lệ đã trải qua, hoặc cũng có thể nói ngược lại là nhà thơ Vương Đức Lệ đã có không ít phút giây chia xẻ một nỗi niềm nào đó của chính chúng ta:
Ngoài kia trắng xoá cơn mưa lạ Chút bọt bèo trôi lạc xứ người Hỡi núi sông ngăn, rừng cách biệt Nhớ sao là nhớ, thuở nào nguôi? Hoặc:
Đắng cay mặn chát môi cười Thân lữ thư,ù đất quê người đẩy đưa Lục bình trôi dạt bến bờ Nửa vòng trái đất còn ngờ chiêm bao Có thể bảo thế giới của THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ là một thế giới trong đó tình yêu, tình người đã bị đày đoạ theo cảnh ngộ bị đày đoạ của con người, cụ thể là con người Việt Nam. Tôi nói con người Việt Nam, vì nghĩ rằng thế giới THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ là thế giới của hết thẩy người Việt trong đó bao gồm cả những người đã được mô tả trong bài thơ sau của nữ thi sĩ Ngô Minh Hằng:
Ngày anh lên năm, lên sáu Anh ca: "mơ gặp bác Hồ..." Ngày anh mười lăm, mười sáu Anh vào bộ đội, xây mơ... Ngày anh hai mươi, hai mốt Cùng tin chiến thắng, anh về Hai chiếc nạng buồn run rẩy Bóng anh nghiêng nắng bờ đê Ngày anh băm lăm, băm sáu Từ quê đến tỉnh khốn cùng Đảng ta thành tư bản máu Giấc mơ ngày nhỏ vỡ tung !!! Ngày anh bốn lăm, bốn sáu Đảng ta cắt đất dâng Tàu Mất đi Nam Quan, Bản Giốc Lòng anh tê tái thương đau! Anh ngồi nhìn anh trong kiếng Hồi lâu anh hỏi anh rằng Tuổi xanh, máu xương anh hiến Cho quê, phải đúng quê chăng??? Diễn tả theo một cách khác, thế giới THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ là thế giới của những tình cảm bị trà đạp, bị xé nát, thế giới của những nạn nhân vốn là những người luôn nhiệt tình chân thực với chữ YÊU: yêu cha mẹ, yêu người tình, yêu anh em bạn bè, yêu đồng loại, yêu đất nước quê hương...
Chính vì sống với con tim yêu thương rộng mở nên ngay cả ý nghĩ cuối cùng của những nạn nhân sau mọi nổi trôi, mọi vùi dập tàn khốc vẫn luôn nồng đượm tình người:
Cảm ơn người đã yêu tôi Cảm ơn người đã ngậm ngùi tiễn đưa Cảm ơn cha bế bồng xưa Cảm ơn mẹ đánh nôi ru thuở nào Cảm ơn đất thấp, trời cao Cảm ơn nơi đã chôn nhau đầu đời ......................... Cảm ơn em, cảm ơn đời Điểm cuối cùng cần nhắc là hình thức thơ Vương Đức Lệ.
Suốt nửa thế kỷ qua đã có không ít những nỗ lực khai phá để làm mới cho thơ.
Từ những khai phá này, người đọc đã được thưởng thức nhiều thể thơ và còn có dịp tham gia nhiều cuộc tranh cãi về ưu thế của thể thơ này hoặc thể thơ khác.
Tại Việt Nam, sau sự xuất hiện của thơ mới vào thập niên 30 là sự ra đời của nhiều thể thơ như thơ phá thể, thơ cảm giác, thơ tự do … Tới nay thì thơ tự do và cả những thể thơ xuất hiện tiếp sau như thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại… đã liên tục bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Trong thời khoảng dài dăïc đó, thể thơ truyền thống coi trọng vần điệu đã nhiều lần bị mô tả qua hình ảnh một con chim già không còn đủ sức cất cánh trên vùng trời thi ca nữa.
Thế nhưng Vương Đức Lệ dường như không hề lưu tâm tới khía cạnh sinh hoạt này. Đọc thơ Vương Đức Lệ, người đọc chỉ thấy tác giả ghi lại cảm xúc của mình một cách hết sức tự nhiên. Những câu thơ của Vương Đức Lệ, do đó, cũng hình thành một cách hết sức tự nhiên.
Qua tác phẩm THƠ TÌNH VƯƠNG ĐỨC LỆ, người đọc có thể bắt gặp nhiều thể thơ khác biệt, nhưng không tìm thấy dấu tích sự lưu tâm tới thể loại thơ. Nhà thơ đã viết ra những câu thơ của mình thật dễ dàng và thoải mái:
Gọi một ly đen nhìn tuyết trắng Lòng không động tĩnh cũng bâng khuâng Quê người, đất khách, thân lưu lạc Đây cố hương và đâu cố nhân? Thực ra vào lúc này, sau gần hai thập kỷ có mặt và có mặt sau nhiều trường thơ khai phá khác, trường thơ Tân Thể hay Tân Cấu Trúc (New Formalism) Hoa Kỳ tuy chủ trương khai phá nhưng vẫn không thể bác bỏ vần điệu trong thơ với lập luận vần điệu chính là một cách thế diễn tả để thơ đủ sức tác động vào tâm tư người thưởng thức.
Với riêng tôi, dù thơ truyền thống đã bị coi là con chim già kiệt lực và dù thể thơ lục bát là một thể thơ già cỗi trong thơ truyền thống thì qua thơ Vương Đức Lệ, những câu thơ lục bát vẫn không hề suy xuyển mức độ diễn tả cần thiết của thơ:
Ta về trăm vết tử thương Hồn đau nghìn vết giáo, gươm trận tiền Xin đời một giấc bình yên. * California 02.2003
UYÊN THAO